Những hiểu lầm về một số ca khúc nổi tiếng

Trong bài viết này, tôi muốn nhắc đến một số bài hát lâu nay đã bị nhiều người hiểu không chính xác về những chi tiết liên quan, trong đó có cả những người viết báo và phê bình, lý luận. Đó là những bài hát quen biết, được công chúng ưa thích, có đời sống trong nhiều năm qua.

Nói đến những bài hát ra đời trong giai đoạn miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 -1968), không thể không nhắc đến "Bài ca 5 tấn" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Hầu như ai cũng nghĩ tác giả viết về quê hương 5 tấn Thái Bình. Nhiều người còn nói đây là bài "tỉnh ca" của tỉnh này: Bài hát truyền thống về một tỉnh). Có lẽ căn cứ vào câu: "... Đất quê ta cũng thể Thái Bình, bài ca 5 tấn vươn mình về khắp nơi...".

Khi ấy, tăng năng suất lúa là một nhiệm vụ Đảng ta rất chú trọng trong lĩnh vực nông nghiệp. Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt năng suất kỷ lục 5 tấn thóc/1ha. Sau đó, dấy lên phong trào nông dân cả nước học tập Thái Bình. Nguyễn Văn Tý là nhạc sĩ luôn nhạy cảm với thời cuộc. Ông đã viết nên "Bài ca 5 tấn" để đáp ứng chủ trương này.

xuan tu copy.jpg -0
Nhạc sĩ Xuân Tứ - tác giả bài hát “Người ở đừng về” và nhạc sĩ Cao Việt Bách - tác giả bài “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”.

Nhưng sự thật là ông đã sáng tác bài này lúc đi thực tế ở Hưng Yên và không có ý viết về một địa phương cụ thể nào mà muốn khích lệ, cổ vũ mọi nơi cần học tập Thái Bình. Vậy nên mới có câu "Đất quê ta cũng thể Thái Bình". Ý ông là các nơi hãy làm sao để đạt được năng suất như Thái Bình. Kể ra, nếu có thêm chữ "như" tức "như thể" thì rõ hơn. Nhưng viết như nhạc sĩ cũng đã lọn nghĩa. Vậy mà không hiểu vì sao ai cũng cứ nghĩ là Nguyễn Văn Tý viết về Thái Bình. Lại có chuyện tỉnh uỷ Thái Bình khi ấy đã rất ưu ái Nguyễn Văn Tý, coi ông là công dân danh dự của tỉnh mình. Khi Nguyễn Văn Tý chưa qua đời, tôi được ông kể lại chi tiết này:

- Hồi đó, mình được Thái Bình quý hóa. Nhưng mình không thể nói rõ là "Tôi không viết về Thái Bình mà là viết chung chung, về phong trào sản xuất lúa ở khắp cả miền Bắc" (vì khi ấy chưa thống nhất đất nước).

"Người ở đừng về" là một bài hát quen thuộc, có thể nói không ai không biết. Nhiều người nước ngoài yêu thích âm nhạc Việt Nam còn tập để hát thành thạo. Hầu như ai cũng hiểu là dân ca quan họ Bắc Ninh. Đã là dân ca tức là khuyết tên tác giả. Văn nghệ dân gian trong đó có dân ca là những tác phẩm ra đời từ xa xưa, lưu truyền từ đời này qua đời khác, người này qua người khác, vùng này qua vùng khác. Nhiều bài dân ca sống mãi trong đời sống người Việt mọi thời đại nhưng không rõ tác giả. Nhưng "Người ở đừng về" không phải dân ca mà là sáng tác mới của nhạc sĩ Xuân Tứ. Điều này đã gần như không ai biết bởi từ trước đến nay, bài hát đều được giới thiệu là "Dân ca quan họ Bắc Ninh".

Xuân Tứ khi sáng tác bài này là giảng viên dạy đàn ác-coóc-đê-ông tại Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam bây giờ). Ông là người đầu tiên sử dụng và giảng dạy nhạc cụ này ở nước ta và trở nên nổi tiếng. Khi nghiên cứu dân ca quan họ Bắc Ninh, ông rất thích bài "Giã bạn" nhưng lại thấy có lời ca nghe rất cổ: "Chuông vàng gác cửa tam quan. Người khôn ở lại, người ngoan ra về...". Ông quyết định từ chất liệu bài dân ca này sáng tác nên một ca khúc mới và đặt lời mới hoàn toàn: "Người ơi! Người ở đừng về. Người về em vẫn khóc thầm. Đôi bên sóng như vạt áo mà lại có ướt đầm như mưa...".

Cách viết ca từ của Xuân Tứ rất phù hợp với chất liệu rất quan họ của bài. Vậy mà ở bất cứ đâu, bài này đều tuyệt nhiên không nhắc gì đến tác giả Xuân Tứ, cứ như mọi bài dân ca khác vậy (như "Hoa thơm bướm lượn" hoặc "Bèo dạt mât trôi"). Chính xác, bài này phải ghi: Xuân Tứ phát triển điệu "Giã bạn" và đặt lời mới.

Cũng như vậy, "Chiếc khăn piêu" là ca khúc được nhạc sĩ Doãn Nho phát triển dân ca Xá và đặt lời mới. Nhưng trong nhiều tập dân ca đã xuất bản chỉ thấy đề là "dân ca Xá". Mãi tới sau này, trong một số chương trình ca nhạc mới nhắc đến tác giả là nhạc sĩ Doãn Nho, nhưng giới thiệu là "sáng tác: Doãn Nho" cứ như mọi bài khác của ông. Sự thực, vị nhạc sĩ quân đội đã viết trong văn bản bài này là: "Doãn Nho phát triển dân ca Xá và đặt lời mới". Như vậy là hoàn toàn chính xác.

Hai bài trên có sự ra đời giống nhau, đều do tác giả phát triển một điệu dân ca có sẵn và đặt lời mới nhưng ở bài "Người ở đừng về" thì cho đến bây giờ, hầu như không ai biết  nhạc sĩ Xuân Tứ là tác giả. Đây là một khiếm khuyết cần được sớm khắc phục.

Trong khi đó, bài "Trông cây lại nhớ tới Người" do nhạc sĩ Đỗ Nhuận đặt lời mới nói về Bác Hồ trên giai điệu bài dân ca Nghệ An quen thuộc "Giận mà thương". Nhưng đều được các nơi giới thiệu ông là tác giả cả nhạc và lời. Sinh thời, có lần nhạc sĩ đã nói với Ban biên tập Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam rằng cần giới thiệu cho chính xác: Ông chỉ có công đặt lời mới, còn phần giai điệu là dân ca. Và ông cũng đề nghị bài này cần được phát trên sóng của buổi phát thanh dân ca chứ không phải nhạc mới.

Bài "Tiếng hát từ thành phố mang tên Người" trong mọi văn bản cũng như khi giới thiệu đều là: Nhạc: Cao Việt Bách, lời: Đăng Trung. Nhưng sự thật là sau ngày Bác Hồ từ trần, rồi sau khi thống nhất đất nước, đã có thêm nhiều bài hát hay viết về Người ra đời. Nhạc sĩ Cao Việt Bách rất muốn sáng tác một bài về vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của dân tộc. Nhưng vẫn loay hoay chưa tìm được ý tứ nào.

Một lần, ông đọc được trên Báo Tiền phong một bài báo nhan đề "Từ thành phố này, Người đã ra đi" của Đăng Trung. Thế là ông lấy luôn tên bài báo làm câu mở đầu ca khúc của mình: "Từ thành phố này, Người đã ra đi. Bao năm ước mong đón Bác trở về...", và đặt tên bài là "Tiếng hát từ thành phố mang tên Người". Rất trân trọng nhà báo, Cao Việt Bách đã ghi tên Đăng Trung ở phần người làm ca từ. Đương nhiên, khi bài hát vang lên hoặc in, ấn xuất bản ở đâu, cái tên Đăng Trung đã gắn liền với bài hát này mặc dù nhạc sĩ chỉ sử dụng cái "tít" bài báo làm câu đầu tiên trong ca khúc của mình.

"Tiến về Sài Gòn" là một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (Huỳnh Minh Siêng). Nhiều người cho rằng bài hát ra đời dịp quân dân ta tổng tiến công giải phóng miền Nam mùa xuân năm 1975. Cũng không ít người nghĩ tác giả sáng tác dịp mùa xuân năm Mậu Thân 1968. Sự thực không phải. Lưu Hữu Phước cho biết: Ông "thai nghén" bài này ngay từ khi ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng (20/12/1960). Nhưng bận trăm công ngàn việc, mãi tới năm 1966, ông mới hoàn thành. Năm 1967, có dịp ra Bắc, ông trao bài cho Quang Hưng lúc này là diễn viên đoàn Ca múa Quân giải phóng và dặn ca sĩ hãy tập bằng cả 2 giọng Nam và Bắc để đến ngày tiếp quản Sài Gòn sẽ thu thanh rồi phát sóng cho đồng bào 2 miền nghe.

Về hoàn cảnh ra đời cũng có bài hát được thông tin sai lệch. "Khúc quân hành mùa xuân" của Nguyễn Đình San viết về bộ đội biên phòng. Nhiều bài báo khi nhắc đến ca khúc này đã nói là tác giả sáng tác tại một điểm tựa trên Cao Bằng. Lại có phóng viên nói ông viết sau cuộc chiến đấu của quân dân ta ở biên giới phía Bắc sau sự kiện ngày 17/2/1979. Nhưng không phải mà sự thật là Nguyễn Đình San sáng tác bài này trên giường bệnh khi bị bó bột sau một tai nạn giao thông vào mùa đông năm 1982.

Ông kể rằng bị nằm bẹp trên giường suốt 2 tháng lúc đang ở độ tuổi sung sức nhất - 36 tuổi. Trên giường bệnh, ông chứng kiến những đứa trẻ chạy nhảy tung tăng ở sân bệnh viện mà thấy rất thèm được hoạt động. Đúng lúc đó, nhạc sĩ An Thuyên là bạn ông đang còn công tác trong Quân khu 4 nói ông có bài hành khúc mới nào liên quan đến bộ đội thì gửi để tập, chuẩn bị tham dự hội diễn toàn quân. Thế là Nguyễn Đình San sáng tác ngay trên giường bệnh. Do quá thèm được chạy nhảy mà giai điệu bài hát tươi vui, nổi rõ hình tượng những bước chân hành quân với khí thế rất sôi nổi, yêu đời.

Về tên bài hát, cũng có những trường hợp người sử dụng hiểu sai. Bài "Câu hò bên bờ Hiền Lương" của Hoàng Hiệp thì chữ "bờ" cứ bị giới thiệu và in ấn là "bến". Khi tác giả chưa qua đời, có lần ông đã phải nói: "Không có bến Hiền Lương nào cả mà chỉ có sông Bến Hải với đôi bờ cầu Hiền Lương mà thôi".

Trên đây chỉ là một số bài hát tiêu biểu đã bị nhiều người - trong đó có giới ca sĩ - hiểu không đúng. Vậy nên rất cần sự hiểu lại cho đúng, chính xác.

Thôn Ca

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).