Những cuốn sách nếu còn có thể làm thay đổi lịch sử

Trước khi người Trung Quốc sáng chế ra kỹ nghệ in ấn, việc bảo tồn sách là vô cùng khó khăn. Ngoại trừ một số trường hợp, số lượng ấn bản của bất kỳ cuốn sách nào cũng chỉ dưới 100 cuốn. Những bản sách mà người ta đã phải kỳ công chép tay lại chỉ được trao đổi giữa một số cá nhân có tiền bạc và địa vị. Chẳng thế nên đa số sách được viết trước thế kỷ thứ 10 đã hoàn toàn biến mất.

Bằng chứng duy nhất còn lại về sự tồn tại của những quyển sách là vì có các tác phẩm khác tham khảo chúng. Nếu như một trong số những quyển sách đã "tuyệt chủng" dưới đây được tìm thấy, rất có thể cách nhìn nhận của chúng ta về lịch sử sẽ thay đổi rất nhiều.

"Sphairopoiian"

Nhiều người biết đến tên nhà thông thái Hy Lạp cổ đại Archimedes qua các định luật về toán học và vật lý của ông. Điều mà ít người biết đến là còn lại vô cùng ít tác phẩm do Archimedes viết còn lại đến ngày nay. Phần lớn lý thuyết của ông do các tác giả khác cùng thời lưu giữ trong tác phẩm họ viết. Bản thân Archimedes viết không nhiều sách khi còn sống. Và qua thời gian số tác phẩm này còn trở nên ít hơn. Tác phẩm quý giá nhất bị mất có lẽ là quyển "Sphairopoiian".

Theo ghi chép của nhà toán học Pappus xứ Alexandria, "Sphairopoiian" viết về thiên văn học. Mà cụ thể là phương pháp chế tạo và sử dụng các công cụ nghiên cứu thiên văn học. Hầu hết các nhà sử học tin rằng, cung thiên văn đầu tiên được xây dựng nhiều năm sau khi Archimedes mất. Nhưng ông lại là người đầu tiên đề xuất ý tưởng dựng nên một kiểu nhà hát có mái vòm tròn để mô phỏng các thiên thể trên trời đêm. "Sphairopoiian" nếu còn tồn tại sẽ là bằng chứng rõ nhất cho giả thuyết này. Và khẳng định thêm sự thiên tài của nhà khoa học cổ đại.

Một phát minh khác được ghi lại trong "Sphairopoiian" là cỗ máy Antikythera. Vào năm 1901, người dân đảo Antikythera (Hy Lạp) tìm thấy những mảnh kim loại có hình thù kỳ dị từ một xác tàu đắm. Các nhà khoa học sau đó đã lắp ghép số mảnh này thành một cỗ máy. Họ đưa ra giả thuyết: người Hy Lạp cổ đại sử dụng cỗ máy này để theo dõi chu kỳ chuyển động của mặt trăng và mặt trời nhằm viết lịch. Một số nhà khoa học đã thử chế tạo những cỗ máy tương tự. Nhưng trừ khi tìm được các văn bản chép tay từ thời đó như cuốn "Sphairopoiian", họ chẳng thể chắc chắn cỗ máy Antikythera vận hành theo cơ chế nào.

"Ab Urbe Condita Libri"

Một phần lớn những điều chúng ta biết được về La Mã cổ đại đến từ số ít những sử gia như Livi. Titus Livius, hay còn gọi là Livi, được coi như sử gia vĩ đại nhất của thành Rome cho dù ông sinh ra ở một thành phố miền Bắc nước Ý. Livi dành cả cuộc đời cho việc soạn bộ sử "Ab Urbe Condita Libri" nói về lịch sử thành Rome. Ông bắt đầu từ lúc nhân vật huyền thoại Aeneas dẫn đoàn người trốn chạy khỏi thành Troy đến đất Ý. Và lập nên tiền thân của Rome, đến cái chết của tướng Drusus, người mất trước Livi chỉ vài năm.

một trang chép tay cuốn ab urbe condita libri do người thời trung cổ viết.jpg -0
Một trang chép tay cuốn Ab Urbe Condita Libri do người thời Trung Cổ viết.

"Ab Urbe Condita Libri" gồm 142 quyển và nằm trong số những bộ sách sử "đồ sộ" nhất. Bất kỳ người La Mã cổ đại có học thức cơ bản nào cũng phải đọc "được hơn một nửa bộ sách", theo như lời triết gia Cicero sau này nói. Tuy vậy, vào thời Trung Cổ, không còn nhiều người quan tâm đến lịch sử La Mã nữa. Cùng với sự biến mất của các sử gia, công việc lưu giữ lịch sử được giao cho giới tu sỹ chuyên tập trung vào những sự kiện liên quan đến đạo Thiên Chúa.

Phải đến tận thời kỳ Phục Hưng, giới trí thức châu Âu mới bắt đầu quan tâm trở lại đến những thành tựu của La Mã cổ đại. Họ tìm trong khắp các thư viện châu Âu, Ả Rập và Ai Cập mới thấy được 35 quyển trong bộ "Ab Urbe Condita Libri" còn nguyên vẹn. Số sách còn lại hoặc là hoàn toàn biến mất. Hoặc chỉ được trích dẫn trong các tác phẩm khác. Các sử gia vì thế đã mất rất nhiều tư liệu về những cuộc chiến giữa Rome và nhiều thế lực láng giềng của họ. Vào những năm giữa thế kỷ trước, các nhà khảo cổ may mắn tìm được một vài trang sách da thuộc trong các di chỉ từ thời La Mã cổ đại.

"Epikos Kyklos"

Theo truyền thuyết thành Rome, thành phố này được lập nên bởi con cháu của những người tị nạn đến từ thành Troy. Đấy chỉ là một trong nhiều dấu ấn của cuộc chiến thành Troy đối với lịch sử thế giới. Ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là bộ sử thi "Illiad" và "Odyssey". Vậy nhưng "Illiad" và "Odyssey" không phải là những bộ sử thi duy nhất viết về cuộc chiến cổ đại này.

"Epikos Kyklos" là tên gọi chung cho những sử thi về cuộc chiến thành Troy không phải do Homer sáng tác. Trong số này có các bộ sử thi "Cypria", "Aethiopis", "Nostoi", "Iliupersis", "Telegony" và "Tiểu Illiad". Không có nhiều thông tin về tác giả của những tác phẩm này ngoài việc họ là các nhà thơ. Nhà thơ là những sử gia của thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Họ sử dụng sử thi truyền miệng để lưu giữ ký ức về những sự kiện lịch sử. Phải nhiều năm sau khi họ mất thì người đời mới chép lại sử thi lên giấy, và đến lúc đó chẳng còn mấy ai nhớ về tác giả gốc.

"Cypria" kể về chín năm đầu của cuộc chiến. "Aethiopis" mô tả các trận chiến giữa Achilles và những đồng minh của thành Troy. "Tiểu Illiad" kể lại những sự kiện xảy ra sau khi Achilles chết đến khi người Hy Lạp giành thắng lợi. "Nostoi" kể về hành trình sóng gió của các đội quân Hy Lạp về quê hương. Còn "Telegony" kể về cái chết của Odyssey bởi đứa con ngoài giá thú của chàng.

Nếu như những sáng tác này còn tồn tại đến ngày nay, ngành sử học sẽ được lợi khi có thêm các góc nhìn khác về cuộc chiến thành Troy. Chưa hết, một số tác phẩm quan trọng khác từ thời cổ đại như hai bộ truyện thơ La Mã "Metamorphose" và "Posthomerica" được phóng tác dựa trên "Epikos Kyklos". Giá trị của các bộ sử thi này đối với ngành lịch sử văn học và ngôn ngữ học vì thế là vô giá.

"Cardenio"

Nói không ngoa, tác phẩm "Don Quixote" đã làm thay đổi bộ mặt của văn học châu Âu vào thời điểm nó ra đời. Lần đầu tiên độc giả châu Âu được đọc một câu chuyện không những rũ bỏ hoàn toàn những môtíp của văn học Trung Cổ, mà còn đem những môtíp đó ra mổ xẻ. Chỉ trong vòng vài năm sau khi "Don Quixote" được xuất bản, tác phẩm lan truyền khắp châu Âu. Thậm chí nó còn được đem sang "tân lục địa" châu Mỹ nữa. Nhiều tác giả khác cũng bắt tay phóng tác hay viết hậu truyện dựa trên "Don Quixote". Trong đó có nhà viết kịch thiên tài người Anh Shakespear.

Vở kịch "Cardenio" dựa trên một trích đoạn trong "Don Quixote" kể về Cardenio, một nhân vật trong tiểu thuyết. Dựa trên những gì người đời khi đó viết lại, vở kịch bắt đầu với việc Don Quixote và người hầu Sancho Panza tìm thấy một bọc vàng cùng vài bài thơ. Vàng và thơ thuộc sở hữu của Cardenio, một thanh niên bị điên sống một mình trên núi. Cardenio bị như vậy do nhìn thấy người yêu anh bị một kẻ khác cưỡng ép phải lấy hắn ta. Sau khi nghe câu chuyện của Cardenio, Don Quixote đã tìm được cách giúp anh tìm được sự thật và lấy lại người yêu của mình.

Đến tận ngày nay các nhà sử học vẫn chưa rõ liệu vở "Cardenio" chân thực đến đâu. Quả thật là có một số văn bản từ thời đó viết về việc đội kịch Nhà hát Hoàng gia Anh tập diễn vở kịch. Nhưng không có bằng chứng gì là tác phẩm đã được hoàn thành để đem ra công diễn chính thức.

Chưa hết, người đương thời viết nhiều nhất về vở "Cardenio" tên là Humphrey Moseley. Moseley là ông chủ nhà xuất bản sách. Và đến nay còn lưu truyền những câu chuyện về việc ông ta giả danh Shakespear hoặc tác giả nổi tiếng khác nhằm tạo sự chú ý cho sách mình phát hành. Khả năng "Cardenio" là vở kịch của người khác nhưng được Moseley "gán danh" Shakespear không phải là không có cơ sở.

Một nhân vật khác trong câu chuyện này là Lewis Theobald, người có thể coi là nhà "Shakespear học" đầu tiên trong lịch sử. Vào năm 1727, Theobald tuyên bố đã tìm thấy một số bản nháp của Shakespear. Trong đó có một phần kịch bản vở "Cardenio". Ông ta dựa trên những bản nháp này mà viết nên một vở kịch khác tên là "Double Falsehood". Ngay vào thời điểm đó người đời đã có nhiều nghi vấn về việc liệu "Double Falsehood" có thật là dựa trên bản thảo của Shakespear không, hay là Theobald đã "nguỵ tạo bằng chứng"? Điều đáng tiếc là vào thời điểm đó ngành khoa học giám định khảo cổ chưa ra đời, còn những bản nháp do Theobald lưu giữ đã biến mất theo thời gian.

Vở "Double Falsehood" đến tận ngày nay vẫn được biểu diễn tại châu Âu. Vào năm 2015, nhân buổi công diễn vở kịch của Nhà hát kịch Hoàng gia Anh, hai nhà khoa học tâm lý Mỹ đã xuất bản một nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng "Double Falsehood", hay đúng hơn là "Cardenio" là tác phẩm do Shakespear viết. Hai nhà tâm lý học đã tham khảo các vở kịch khác của Shakespear để hiểu cách sử dụng ngôn ngữ và tâm tình người viết, từ đó xây dựng mô hình tâm lý -  tính cách của nhà biên kịch. Khi đem áp dụng hai vở kịch trên vào mô hình này liền xuất hiện rất ít sự trái ngược. Đây là bằng chứng vững chắc nhất từ trước đến nay cho câu hỏi: "Cardenio thuộc về ai?".

Lê Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).