Những cây cầu văn hóa phương Đông!

Có nhiều cây cầu bắc ngang bầu trời văn hóa phương Đông, chỉ xin miêu tả lại vài hình tượng quen thuộc chung đặc điểm gắn liền với cuộc tình cảm động.

Cầu Ô Thước có ở nhiều nước nhưng đi sâu vào tâm thức để kết thành lễ hội cộng đồng thì có ở Trung Quốc và Nhật Bản. Gọi là Ô Thước vì do hai loài chim quạ và chim khách kết cánh với nhau làm thành. Việt Nam không có lễ hội nhưng "bắc" vào tập quán, thiêng đến mức thành tục kiêng suốt cả tháng 7 âm hầu như không có chuyện cưới hỏi, làm nhà, công việc buôn bán cũng ế ẩm...

Cả ba nước có chung mô-típ: vợ chồng Ngưu Lang - Chức Nữ yêu nhau nhưng bị Ngọc Hoàng phạt lỗi bắt cả năm chỉ được gặp nhau ngày 7 tháng 7 (Thất Tịch). Bầy chim bắc thành cầu Ô Thước ngang sông Ngân giúp họ. Nước mắt mừng tủi của cặp vợ chồng rơi xuống hạ giới, gọi là mưa Ngâu.

image001.jpg -0
Hình minh họa xây cầu Rama!

Truy ngược về nguồn, ra đời từ Trung Quốc, truyện kể Ngưu Lang chăn trâu cho Ngọc Hoàng, say mê tiên nữ dệt vải tên Chức Nữ nên bỏ bê công việc, để trâu nghênh ngang đi cả vào điện Ngọc Hư sang trọng. Chức Nữ thì trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng tức giận, bắt mỗi người ở một bên bờ sông Ngân, chỉ được nhìn nhau từ xa. Đàn quạ thương tình bèn bảo nhau bay lên trời kết làm cầu để đôi vợ chồng có thể gặp nhau trong một đêm. Vì phải đội những tấm ván cầu nên đầu bầy quạ bị trụi lông. Lại có dị bản kể Thiên Hậu (vợ Ngọc Hoàng) không đồng ý Chức Nữ người tiên lấy Ngưu Lang người thường nên bà bắt Chức Nữ ngồi bên sông Ngân làm công việc dệt những đám mây ngũ sắc...

Tiếp biến sang nước ta, câu chuyện được khúc xạ bởi tư duy và quan niệm của văn hóa Việt. Truyện kể, sông Ngân không qua lại được nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh các phường thợ mộc dưới trần lên thượng giới làm cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, các thợ mộc cứ cãi nhau mãi nên đến hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bắt họ hóa thành kiếp quạ làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau.

Vì thế, cứ tới tháng 7 loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô Kiều. Vốn đã xấu xí lại còn làm lông bay bẩn mặt sông, Ngưu Lang, Chức Nữ bèn ra lệnh trước khi lên trời bầy quạ phải nhổ sạch lông đầu. Thế là từ đó, cứ tới tháng 7 thì loài quạ dưới hạ giới trông rất tội nghiệp, đầu trọc lốc, bộ cánh đen đúa càng thêm xơ xác... Câu chuyện lý giải hai hiện tượng tự nhiên trong khoảng thời gian tháng 7 âm là mưa ngâu và quạ trụi lông đầu.

Trên dưới nửa thế kỷ trước, ở nhà quê, quạ vẫn còn nhiều, cứ vào đầu tháng 7 âm là quạ kêu ầm cả xóm. Đến kỳ thay lông nên trông chúng gầy còm xơ xác, nhất là cái đầu trọc nom vừa ngộ nghĩnh vừa đáng thương. Nhìn đàn quạ lại nghĩ tới câu chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ. Người nhà quê xưa ghét quạ vì chúng xấu xí, đen đủi lại kêu điếc tai, nhất là hay bắt trộm gà con. Câu chuyện buồn, hình tượng (quạ) lại không gây thiện cảm nên thành "kiêng cữ" cũng dễ hiểu.

Các thành ngữ về quạ hầu hết là tiêu cực: "Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con"; "Láo liên như quạ"; "Quang quác như quạ"; "Đen như quạ", "Xấu như quạ"; "Đồ quạ mổ"... Câu chuyện kèm theo bài học giáo huấn về đoàn kết, làm bất kỳ công việc gì cũng phải biết bảo ban, nghe lời nhau mới thành công. Phường thợ mộc kia mạnh ai nấy làm, chẳng ai nghe ai nên không làm xong được cầu. Không đoàn kết sẽ dẫn đến thất bại và phải chịu hậu quả. Cả đám thợ liền bị hóa thành bầy quạ xấu xí...

Con đường giao lưu đến với Nhật Bản xa hơn, lại qua biển nên nội dung câu chuyện nhạt đi, thế vào tinh thần Nhật Bản đậm đà. Truyện kể, Ngọc Hoàng có người con gái yêu tên là Tanabata-tsume (Orihime) rất giỏi nghề dệt lụa. Một ngày nọ, nhìn thấy một gã chăn bò rất đẹp trai tên là Hikoboshi đi ngang qua, nàng đem lòng si mê. Ngọc Hoàng đồng ý cho họ nên vợ nên chồng. Nhưng, vì quá yêu nhau, suốt ngày bên nhau rong chơi và chẳng chịu làm gì cả, người con gái bỏ quên cả khung cửi, còn con bò của chàng trai thì lang thang khắp nơi ở trên trời. Các vị thần rất bất bình bèn phạt hai người phải sống ở hai đầu sông Ngân. Mỗi năm một lần, họ chỉ được phép gặp nhau vào ngày 7 tháng 7 hằng năm.

image003.jpg -1
Hình ảnh lễ hội Tanabata (Nhật Bản).

Từ đó, cứ vào ngày này là bầu trời trở nên quang đãng như để chào đón, chúc phúc cặp vợ chồng. Truyền thuyết kết thành lễ hội Tanabata lãng mạn. Về bản chất, lễ hội Tanabata là một lễ hội ngắm sao, kỷ niệm cuộc gặp gỡ của hai vị thần Orihime (Chức Nữ) và Hikoboshi (Ngưu Lang). Hằng năm, cứ vào ngày này, tại xứ Phù Tang tổ chức lễ hội sao, hay còn gọi là ngày lễ Thất Tịch. Người ta viết những lời cầu nguyện cùng những vật trang trí (theo luật ngũ hành) lên cành tre, đưa lên thuyền với ý niệm con thuyền sẽ theo dòng sông Ngân huyền thoại lên tận trời... Các đôi uyên ương sẽ tới các đền thiêng cầu nguyện...!

Cầu Rama là cây cầu nổi tiếng thế giới trong văn hóa Ấn Độ và cả thế giới, bởi trước hết nó được "bắc" rất đẹp và hoành tráng trong sử thi "Ramayana". Truyền thuyết kể, hoàng tử Rama bị buộc phải từ bỏ quyền lên ngôi và đi lưu đày trong 14 năm. Vua quỷ Ravana bắt công chúa Sita (vợ Rama) đưa đến Sri Lanka. Rama trở về và một cuộc chiến kéo dài diễn ra. Cuối cùng, Rama đánh bại kẻ cướp, đưa vợ về và giành lại ngôi vua. Nhưng, vượt biển bằng cách nào?

Để sang được đảo Sri Lanka, thần Rama tập hợp đội quân khỉ xây một cây cầu nổi trên biển bằng cách viết tên Rama trên những tảng đá và ném chúng xuống nước. Vì tên Rama như một bùa phép thần kỳ nên những viên đá không bị chìm. Con đường/cây cầu này có thật không? Trên thực địa, nó dài khoảng 30 km, là một chuỗi các bãi cát ngầm đá vôi ngoài khơi bờ biển Tamil Nadu (Ấn Độ) và đảo Mannar (Sri Lanka). Khảo cổ địa chất cho thấy đó từng là một dải đất kết nối giữa Ấn Độ và Sri Lanka và con người có thể đi bộ. Thế kỷ XV, một cơn địa chấn đã làm sụt lún và con đường chìm sâu xuống biển.

Lại có nghiên cứu với những chứng cứ thuyết phục khẳng định cây cầu có thực, tức là một công trình nhân tạo. Lại có phản biện cho rằng "cây cầu" được kiến tạo bởi cát lắng và quá trình tự nhiên của trầm tích mà thành. Có thực hay không thì chưa thật rõ nhưng cái có thật là sự thiêng liêng của cây cầu trong sử thi "Ramayana" huyền thoại. Vì nó là linh hồn của kiệt tác vĩ đại -  một phần của văn hóa Ấn Độ. Người ta tôn sùng thần Rama cũng tức là tôn sùng cây cầu. Người ta cầu nguyện mối tình thủy chung chồng vợ cũng là nguyện cầu cho cây cầu linh thiêng ấy mãi mãi bắc ngang bầu trời văn hóa Ấn Độ.

Thế nên, khi Chính phủ Ấn Độ đề xuất dự án nạo vét dải đất ấy để tạo ra một con đường vận chuyển biển vô cùng thuận lợi giữa Ấn Độ và Sri Lanka, thì lập tức bị phản ứng dữ dội. Tất nhiên, trước tiên là ngành văn hóa - du lịch, vì làm thế là "xóa sổ" một di tích khảo cổ "một đi không trở lại". Cây cầu đã trở thành biểu tượng văn hóa cả nhân loại biết, nếu "xóa" đi khác nào chặt gốc cây đã được lịch sử trồng mấy ngàn năm, để rồi làm héo rũ hoa quả văn hóa vốn đang đẹp đẽ, tươi rói. Lại thêm, cây cầu ấy là biểu tượng cho tình nghĩa vợ chồng chung thủy, phá nó tức phá bỏ biểu tượng hôn nhân...

Từ những câu chuyện trên cho thấy cây cầu trong văn hóa luôn gắn liền với tình yêu. Cây cầu vật lý gắn nối hai bờ. Cây cầu tình yêu gắn kết hai trái tim. Cầu còn là điểm hẹn, nơi gặp gỡ... Điển tích Vĩ Sinh người nước Lỗ (thời Xuân Thu) yêu một cô gái nhưng cha mẹ cô chê rể nghèo. Cặp tình nhân hẹn gặp nhau dưới chân cầu để đi trốn. Vĩ Sinh đến trước đợi. Người yêu chưa đến, nước triều dâng, chàng cứ ôm chặt lấy trụ cầu, thà bị chết đuối còn hơn thất hứa.

Phải chăng, ánh hồi quang của câu chuyện này lấp lánh trong bài thơ "Đợi" của Vũ Quần Phương: "Anh đứng trên cầu đợi em/ Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm/ Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy/ Nước chảy bên lòng, anh đợi em/ Anh đứng trên cầu nắng hạ/ Nắng soi bên ấy lại bên này/ Đợi em. Em đến? Em không đến?/ Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!/ Anh đứng trên cầu đợi em...!". Anh trên cầu đợi em. Dưới cầu, dòng sông thời gian hay dòng tình yêu cứ chảy. Liệu có cập bến hôn nhân?

Ca dao Việt có hình tượng "cầu dải yếm": "Gần đây mà chẳng sang chơi/ Để anh ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu/ Mồng tơi chả bắc được đâu/ Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang". Tại sao lại vậy? Xin mời bạn! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).