Những cánh bướm xuân...!!!

Nghiên cứu về “hiệu ứng cánh bướm”, nhà toán học nổi tiếng – ông Edward Norton Lorenz chuyên gia về lý thuyết hỗn loạn, năm 1968 – phát biểu: “Chỉ cần một con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra một cơn lốc xoáy ở Texas”.

Một khía cạnh của “hiệu ứng” này nói về sự nhạy cảm của hệ thống thời tiết với những điều kiện ban đầu để chứng minh những dự báo thời tiết nhiều hơn 1 tuần là vô nghĩa bởi sự thay đổi do các hiệu ứng lan truyền. 

Ai cũng thấy độ “vênh” nhất định giữa bản tin dự báo thời tiết thường ngày với thực tế. Các nhà quan trắc khí tượng thủy văn thì nói chỉ là “dự báo” nên không thể chính xác tuyệt đối được. Đấy là một biểu hiện của “hiệu ứng cánh bướm” với đặc trưng muôn thuở của nó là sự “chập chờn”.

Bướm và nắng xuân!
Bướm và nắng xuân!

Sự “chập chờn” liền đi vào nghệ thuật như một sự hô ứng tương giao giữa hiện tượng thực tế với đặc trưng nghệ thuật: Nhiều khi cứ “chập chờn” ma mị như khiêu khích, như khơi gợi, như mời gọi, như nũng nịu, như uốn éo... mới tạo ra “hiệu ứng”! Phải chăng mà vì thế dân gian hay gọi các văn nghệ sỹ là “chập”, “chập cheng”... trong khi đó người ta đang trong cơn đau đẻ sáng tạo ra các hình tượng thẩm mỹ để đời. Thật là chả hiểu gì các thiên tài lại còn hay cạnh khóe!!! 

Cũng vì thế mà ở Mỹ, năm 2004, “ăn theo” hiệu ứng cánh bướm trong khoa học vật lý liền có một bộ phim tên y chang như thế rất ăn khách. Dĩ nhiên phải là phim thuộc thể loại tâm lý với những pha gay cấn, hồi hộp với cái ý nghĩa là từ một khác biệt nhỏ ban đầu, theo thời gian có thể dẫn đến một hậu quả lớn khó lường. Các cặp vợ chồng khắp thế giới thi nhau xem để nhận được bài học: Cố mà chịu đựng nhau từ cái nhỏ nhất thì nhà cửa mới yên, con cái mới khỏi buồn!!!

Các nhà Nho đạo mạo đáng kính thời xưa vì chuẩn mực ưa những gì ngay ngắn, thẳng thớm kiểu “chiếu trải không vuông không ngồi, thịt thái không vuông không ăn” nên không ưa gì sự bay bướm chập chờn. Ghét đến mức lấy hình ảnh ấy để gọi cái gì tối tăm nhất, (nhưng các cụ cũng thâm thúy lắm) cũng mời gọi nhất! Thế nên hình tượng này ít xuất hiện trong thơ. Nhưng các cụ ta không cấm được cánh bướm bay lượn khỏe khoắn mà gợi tình trong ca dao, dân ca: “Bướm lượn là bướm ới a nó bay/ Bướm dạo là bướm ới a nó bay” (“Hoa thơm bướm lượn” - Dân ca quan họ Bắc Ninh).

Nhưng trong văn học viết thì thời đại nào tính dân chủ cao thì vẫn có, như ở ta trong “Thánh Tông di thảo” có một truyện rất hay tên là “Duyên lạ hoa quốc”. Ra đời gần 600 năm mà đọc truyện đã thấy có bóng dáng của hậu hiện đại, của huyền thoại, của giải huyền thoại, của hoang đường, kỳ ảo... 

Truyện kể chàng Chu sinh học trò cha mẹ mất sớm ở với chú thím. Thím hay giận nên Chu bỏ về nhà chịu đói. Một hôm Chu nằm mơ được đón đến xứ “Hoa Thành quốc” lên chức phò mã có vợ là công chúa Mộng Trang. Đêm động phòng hoa chúc Chu sung sướng ngất trời đê mê hạnh phúc khi thấy vợ “tuyết thua màu trắng, ngọc ngời vẻ trong, ngón tay búp măng, hàm răng hạt bí, nếu không phải vẻ đẹp Hằng Nga thì cũng nét vàng tiên giới”. 

Chàng thoáng băn khoăn nhưng cũng quên ngay cái mà các nhà văn hôm nay gọi là “chi tiết”: “những khi gió bay tà áo trong, chỗ lưng bụng hở ra trông có vằn là lạ”...Từ đó cứ ba hôm Chu lại ngủ để nằm mơ được đi làm phò mã được lên xe xuống kiệu, được ăn uống thỏa thuê nên ngày thường chàng chẳng ăn uống gì mà vẫn khỏe mạnh...

Nhưng xứ “Hoa Thành quốc” có giặc. Cả nước phải rút lui. Mẫu quốc nói cho rể ít tiền để học tập, còn con nhỏ phải theo mẹ, gia đình sẽ gặp nhau sau “hai mươi sáu tháng” nữa. Tỉnh dậy chàng thấy có 10 nén vàng trong túi... Đủ tiền ăn học, chàng ra công đèn sách rồi đỗ Hương cống. 

Năm Quang Thuận 4 (1463) Tuyên Quang có giặc, nhà vua phong Chu làm Bình man đại tướng quân đi đánh dẹp. Là người thông minh, tìm hiểu nghiên cứu rồi đem quân đến vây Hoa Điệp cương là nơi giặc đóng, chàng sững người khi thấy xứ ấy bạt ngàn hàng vạn cánh bướm bay. Thì ra cái tên Hoa Điệp cương là vậy (xứ sở của bướm hoa). 

Chu ra sức đánh bắt được tướng giặc. Đêm ấy nằm mơ Chu được đón trở về Hoa Thành quốc gặp vợ con. Tỉnh dậy Chu mới rõ mình là phò mã xứ bướm, theo lời Mẫu quốc sẽ là vua xứ bướm. Trở về triều đình chàng tâu vua cáo quan. Một ngày sau thì mất!

Trong bộ “Nam hoa kinh” (chương “Tề vật luận”) của Trang Tử có câu chuyện Trang Chu hóa bướm trở thành một điển tích văn học nổi tiếng: “Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, Chu không biết mình là Chu nữa. Tỉnh dậy, ngạc nhiên lại thấy mình là Chu. Chu băn khoăn không biết mình là Chu hay là bướm…”. 

Thì ra mình biết mình là điều cũng cực khó thay. Là người hẳn hoi đấy thế mà có lúc còn không phân biệt được mình là người hay vật! Triết học gọi trường hợp này là lúc rơi vào “điểm mù lý trí”, ai cũng có lúc gặp. Thế nên đừng nghĩ mình lúc nào cũng là người thông minh! 

Cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” mượn tích này tả tiếng đàn của Thúy Kiều cực hay: “Khúc đâu đầm ấm dương hòa/ Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh”. “Hồ điệp” là con bướm. Tiếng đàn hay đến mức làm người nghe (Kim Trọng) như bị mê đi để “phiêu” vào một thế giới khác, không phân biệt mình là ai nữa. Nghệ thuật là phải như thế!

Huyền thoại yêu đương phương Đông có truyền kỳ “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” quá yêu nhau nhưng bị chia duyên rẽ thúy. Chúc Anh Đài bị ép lấy chồng là Mã Anh Tài. Lương Sơn Bá buồn quá mà chết. Hôm cưới, qua mộ tình nhân, Chúc Anh Đài rời kiệu hoa đến trước mộ phần của Lương Sơn Bá. Cửa mộ bỗng nhiên mở ra đón Chúc Anh Đài đi vào bên trong. Thoáng chốc từ trong mộ, một đôi bướm rất đẹp quấn quýt chấp chới cùng nhau bay ra trong sự cực kỳ kinh ngạc và cực kỳ đau khổ của nhà trai. Từ đó thiên hạ được một bài học: Chả dại gì chia rẽ những cặp uyên ương!

Đổi mới dễ thấy nhất ở Thơ mới là đưa những hình tượng thật mới mẻ mà bay bổng vào thơ, dĩ nhiên phải có cánh bướm. Hình tượng này chấp chới nhiều trong thơ Xuân Diệu: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật…/Ta muốn say cánh bướm với tình yêu” (“Vội vàng”). Hàn Mặc Tử thì “Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm/ Ai đưa ta lạc đến nước non này” (“Duyên kỳ ngộ”)... 

Nhưng nhiều nhất là trong thơ chân quê Nguyễn Bính. Cùng với sự “phơi phới” bay của mưa xuân, của “thấp thoáng” hoa đào nở, hoa xoan rụng, hoa mai trắng... là biết bao nhiêu những hình ảnh cánh bướm chập chờn: Bướm trắng, bướm vàng, bướm nâu, bướm đen, bướm chúa… làm xốn xang bao trái tim chân quê: “Qua dậu tầm xuân thấy bướm nhiều/ Bướm vàng vàng quá bướm yêu yêu” (“Hết bướm vàng”); “Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng/ Thấy con bướm trắng thường sang bên này” (“Người hàng xóm”). 

Chắc nhà thơ nghĩ đến truyện “Duyên lạ hoa quốc” ở trên mà có những câu này: “Em ạ ngày xưa vua nước bướm/ Kén nhân tài mở điệp lang khoa/ Vua không kén trạng vua thề thế/ Con bướm vàng tuyền đậu thám hoa” (“Truyện cổ tích”)... Yêu bướm đến mức Nguyễn Bính từng lấy bút danh là Điệp Lang, hiểu thoát nghĩa là “chàng bướm”! Thế nên trong thơ ông có cả “giấc bướm”, “lời bướm”, “nước bướm”, “xứ bướm”... thậm chí cả “bướm nói điêu”...

Khác với Nguyễn Bính hình như chỉ yêu mình bướm, Bùi Giáng mở rộng hơn: “Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi/ Trần gian ơi cánh bướm cánh chuồn chuồn/ Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại/ Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn” (“Phụng hiến”). Sau này Giang Nam “định nghĩa” quê hương bằng hình ảnh cánh bướm, có “Những ngày trốn học đuổi bướm cầu ao” và “Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm” (“Quê hương”). 

Hình tượng cánh bướm đã trở thành một nét thi pháp trong thơ hiện đại. Để miêu tả một không gian xôn xao, bừng nở: “Nắng đùa mái tóc/ Chồi biếc trên cây/ Lá vàng bay bay/ Như ngàn cánh bướm” (“Chồi biếc” – Xuân Quỳnh). Là sự cụ thể hóa hình tượng quê hương trong nhạc phẩm/thi phẩm của nhà thơ – nhạc sỹ Vy Nhật Tảo: “Anh còn nhớ mái đình xưa/ Ngôi đình xưa ê a giọng hát/ Đuổi ve bắt bướm những trưa hè” (“Chuyến đò quê hương”).

Hình tượng cánh bướm chấp chới chập chờn bay đi về ở cả hai không gian thơ và nhạc. Cánh bướm chấp chới du dương theo nhạc để trở thành hình tượng bằng vàng trong âm nhạc dân tộc: “Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm đa tình về hoa/ Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư về đây với thu trần gian” (“Gửi gió cho mây ngàn bay” - Đoàn Chuẩn và Từ Linh). Nó cũng là một hình tượng buồn nương theo khuông nhạc chấp chới bay về miền quá khứ tuổi thơ vàng son: “Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi/ Lấy chồng sớm làm gì/ Để lời ru thêm buồn” (“Sao em nỡ vội lấy chồng” – Trần Tiến)...

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).