Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đoàn kịch Nam Định

Những bước tiến vững chắc trên con đường nghệ thuật

Đã hàng chục năm qua, Kịch Nam Định được coi là loại hình nghệ thuật sân khấu mũi nhọn. Khán giả chính là thước đo đánh giá hiệu quả nghệ thuật và cũng là tiêu chí mà Đoàn Kịch Nam Định theo đuổi bấy lâu nay. Câu chuyện về khán giả lại càng nổi cộm vào thời đoạn hiện nay, khi đời sống đang ngày càng trở nên sôi động trong nền kinh tế thị trường...

Chìa khóa của bài toán đi tìm khán giả

Đoàn Kịch Nam Định nổi tiếng có sức thu hút khán giả từ nhiều năm qua, với những vấn đề nóng bỏng của thời đại được trình diễn trên sân khấu. Cùng với đó, đội ngũ nghệ sĩ tài năng của Đoàn cũng để lại những dấu ấn sâu sắc qua những vai diễn làm xúc động lòng người. Không ai có thể quên những ngày tháng khởi đầu khi mới thành lập Đoàn Kịch Nam Định (năm 1972), khán giả đến xếp hàng rồng rắn, dài hàng trăm mét để chờ mua vé vào xem vở kịch “Đôi mắt” (tác giả Vũ Dũng Minh; đạo diễn Doãn Hoàng Giang).

Từ đó, kịch Nam Định, với dàn diễn viên trẻ tài năng được đào tạo sau này như NSƯT - đạo diễn Đào Quang, NSƯT Nguyễn Thùy Linh, NSƯT Trịnh Tiến Lâm, Quang Nhất, Thiên Nga, Đình Tuyên… đã tạo nên bước tiến nghệ thuật đáng kể. Hoạt động của Đoàn ngày một sôi nổi và có sức lôi kéo khán giả. Có thể kể ra những vở kịch nóng bỏng thời cuộc như vở “Rừng cháy”, với 300 đêm diễn; hay vở “Thiên nga”, với 200 đêm diễn; hoặc vở “Sau cơn giông”, cũng đạt 200 đêm diễn…

Cuộc thi tài năng sân khấu trẻ tại Nam Định tháng 5-2017.
Cuộc thi tài năng sân khấu trẻ tại Nam Định tháng 5-2017.

Khán giả là mối quan tâm thường trực trong tâm tưởng của mỗi Trưởng đoàn khi bắt tay dựng vở mới. NSƯT, đạo diễn Đào Quang, nguyên Trưởng đoàn Kịch Nam Định (1990-2012) là người đã có nhiều trải nghiệm và suy nghĩ thấu đáo về khán giả trong quá trình dựng vở.

Anh tâm sự: “Mỗi vở diễn Đoàn đều nhằm vào đối tượng khán giả nhất định và phải đề cập tới những vấn đề liên quan tới họ, trực tiếp tới đời sống thường nhật. Thậm chí cần phải nói được những điều gì sẽ xảy ra với họ thì mới mong kịch bản có hơi thở của thời đại”. Khán giả trở thành những người bạn đồng hành với anh em nghệ sĩ, cùng chia sẻ và tranh luận những vấn đề mà kịch bản đặt ra.

Hãy đừng coi khán giả chỉ là “Thượng đế” theo nghĩa đen, mua vé vào xem rồi dửng dưng ra về. Họ là người xem đồng thời cũng là người đồng sáng tạo vở diễn. Đó chính là chìa khóa của “Phần mềm” giải bài toán kết nối với khán giả cho sân khấu kịch Nam Định từ Đổi mới tới nay.

NSƯT Đào Quang đơn cử tới vở “Vàng đen” của Văn Sử, do chính anh đạo diễn vào năm 2008. Tuy đối tượng khán giả là những người vùng Mỏ, đề tài đề cập tới nạn khai thác than “thổ phỉ” tại các mỏ than ở Quảng Ninh, nhưng vấn đề được đặt ra là trách nhiệm của các nhà quản lý, và thái độ công dân của mỗi người công nhân làm việc tại đây sẽ làm gì để ngăn chặn tệ nạn.

Vở kịch được dàn dựng sau những tranh luận, trao đổi cùng sáng tạo trên cơ sở kịch bản, nên Đoàn được khán giả ủng hộ nhiệt liệt, với hàng chục đêm diễn tại khu Mỏ và một số địa phương trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Không những thế, vấn đề nóng bỏng của “Vàng đen” mang tầm khái quát điển hình các hiện tượng xã hội, nên đã được khán giả nhiều nơi chờ đón. 

Cùng với sự đồng hành của người xem, Đoàn Kịch Nam Định còn nhiều vở có giá trị trong suốt thời kỳ Đổi mới. Các nghệ sĩ đã tìm ra được cách kể chuyện mới, đặt vấn đề sâu sắc về con người, mang tính dự báo xã hội cao. Nếu “Vàng đen” bật lên lời cảnh báo cấp thiết về những thảm họa mà nguyên nhân chính do con người gây nên thì ở “Rừng cháy” (Giải A - Hội diễn năm 2000; tác giả Lê Quý Hiền, đạo diễn Đào Quang), lại lên án sự hủy hoại rừng vì quyền lợi ích kỷ, đồng thời cũng dự báo sâu sắc về nguy cơ suy thoái môi trường sẽ đem tới sự hủy diệt sự sống trong tương lai. 

Khán giả nhớ tới hàng loạt vở diễn tiêu biểu như: “Đôi mắt” (1972); “Bão biển” (1974); “Mùa hè ở biển” (1985); “Nửa ngày về chiều” (1990); “Tú Xương” (1995); “Không thể có thể" (1996); “Ô cửa sổ bỏ ngỏ” (1997); “Rừng cháy” (2000); “Khoảng trống” (2002); “Ai là thủ phạm” (2007); “Họa mi lại hót” (2010); “Phía sau vụ án” (2015). Đó là những vở diễn tiêu biểu trong số 47 vở diễn của Đoàn trong 45 năm qua. Những vở diễn này điển hình cho phong cách nghệ thuật khác biệt của Kịch Nam Định, với hàng chục huy chương Vàng, Bạc, Đồng qua các Hội diễn Sân khấu toàn quốc và miền duyên hải từ năm 1985 đến năm 2015.

Những thách thức phía trước

Vẫn là câu chuyện khán giả đến với sân khấu kịch nói. Dăm năm qua, hoạt động sân khấu trở nên khó khăn hơn. Bài toán thu hút khán giả trẻ, giờ đây cần cởi mở hơn về đề tài nhưng phải thiết thực, gần gũi với họ.

NSƯT Nguyễn Thùy Linh, Trưởng đoàn Kịch Nam Định hiện tại đã bày tỏ sự trăn trở khi đối diện với những trở ngại trước mắt. Đoàn liên tục phát huy được những tiêu chí nghệ thuật đặt ra bởi những người tiền nhiệm, đừng chỉ coi khán giả là “thượng đế”, mà hãy sát cánh bên họ như những người bạn đồng hành trên con đường nghệ thuật đương đại. NSƯT Nguyễn Thùy Linh bộc bạch, Đoàn vẫn đi phục vụ khán giả ở nhiều nơi, các tỉnh thành trên toàn quốc, với nhiều chương trình mới và những đề tài nóng bỏng trên sân khấu.

Cảnh trong vở “Ai là thủ phạm”.
Cảnh trong vở “Ai là thủ phạm”.

NSƯT Nguyễn Thùy Linh nhẩm tính, thường mỗi tháng Đoàn đi biểu diễn tại 5 tỉnh. Dường như anh em nghệ sĩ của Đoàn đã có mặt ở khắp đất nước trong nhiều năm qua. Phải đưa cánh gà sân khấu lên rừng, ra đảo và xuống đồng cùng với khán giả. Đến đâu người xem cũng hồ hởi đón chào và nhiệt liệt ủng hộ. Chị nhớ lại chuyến đi mới đây vào đầu năm 2017, khi đến với khán giả là những chiến sĩ hải quân ở Đà Nẵng.

Sau đêm diễn là cuộc giao lưu ca nhạc. Họ cùng nhau trao đổi những tâm tình về đời sống. Những câu chuyện trên sân khấu đã đem lại những kỷ niệm khó quên cho những người lính trước khi lên đường. Ngày mai họ lại ra biển khơi canh giữ biển đảo quê hương. Cảm xúc của những người lính thêm một đồng hành với các anh em nghệ sĩ trong đoàn. Đó chính là niềm hưng phấn sáng tạo cho mọi nghệ sĩ trên sân khấu.

Mấy năm qua, Đoàn đã dàn dựng được những vở mới, và được khán giả đón nhận như: “Khoảng trống” (Huy chương Bạc Hội diễn-2013); “Phía sau vụ án” (Huy chương Bạc - Hội diễn Sân khấu Công an - 2015), cùng với 8 Huy chương Vàng, Bạc cho các nghệ sĩ trẻ; “Thành Hoàng Làng” (Giải Nhì Hội Nghệ sĩ Sân khấu - Hình tượng Người chiến sĩ Công an - 2015). Hiện Đoàn đã có những hợp đồng biểu diễn cho tới tháng 10-2017, phục vụ khán giả là bà con dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc. Vậy là con đường tìm đến khán giả tại các địa phương vẫn là một giải pháp hữu hiệu để tìm bạn đồng hành.

Tuy vậy, Trưởng đoàn, NSƯT Nguyễn Thùy Linh vẫn xoay xở tìm ra cách để khắc phục hiện tượng thiếu vắng khán giả đến với sân khấu kịch hiện nay. Hai năm qua, Đoàn đã mở các chương trình sân khấu nhỏ, diễn ngay tại sân khấu trụ sở. Đây là hoạt động “lấy ngắn nuôi dài”, khi kinh phí dựng vở lớn hằng năm được cấp khá hạn hẹp.

Chương trình sân khấu nhỏ tổng hợp, gồm kịch ngắn, ca nhạc, hài kịch, ảo thuật, kịch câm phần nào đã đem lại niềm vui cho anh em nghệ sĩ, khi thu hút được khán giả trẻ đến xem. Cứ mỗi quý, Đoàn lại dựng một chương trình mới phục vụ khán giả. Cùng với đó, sự đồng lòng của anh em nghệ sĩ luôn luôn cố gắng vượt lên để dựng những vở lớn, thể hiện trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.

Chính vì thế Đoàn đã vận dụng cơ chế thoáng, khi vận dụng phương cách xã hội hóa, không dùng tiền Nhà nước, dựng vở “Thành Hoàng Làng” để đi dự Hội diễn Sân khấu lực lượng Công an năm 2015. Mới đây, trong cuộc thi “Tài năng trẻ diễn viên Sân khấu Kịch nói chuyên nghiệp toàn quốc 2017”, Đoàn Kịch Nam Định đóng góp tới 4 tiết mục trích đoạn, với sự hiện diện của những tài năng trẻ như Phạm Hồng Thanh, Nguyễn Thị Thùy Linh, Đặng Thu Phương, Trần Đức Vân.

 Kết quả, Nguyễn Thị Thùy Linh giành Huy chương Bạc. Sự kiện này minh chứng cho niềm khát khao sáng tạo nghệ thuật vẫn luôn luôn trỗi dậy trong mỗi người nghệ sĩ của đoàn kịch. Để khán giả tìm đến, đoàn kịch sẽ cần phải có nhiều sự bứt phá, sáng tạo, không ngừng thể hiện vai trò mũi nhọn sau 45 năm lớn mạnh trên “Sân khấu Thánh đường Thành Nam”.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).