Nhớ về thầy Hiệu trưởng đầu tiên của mái trường danh tiếng thành Nam

Trong hai ngày 21, 22/3, hàng ngàn cựu học sinh, học sinh đã và đang theo học tại mái trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định) đã trở về nơi đây để cùng tri ân thầy cô, chia sẻ ký ức và kỷ niệm nhân sự kiện nhà trường kỷ niệm 95 năm ngày thành lập và đón Cờ thi đua của Chính phủ.

Trong chuỗi các hoạt động kỷ niệm ngày thành lập có một sự kiện ý nghĩa, đó là buổi tọa đàm kỷ niệm 115 năm sinh người thầy đáng kính – Hiệu trưởng Đào Văn Định. Thầy cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của mái trường danh tiếng thành Nam này.

Rất đông các giáo sư, viện sỹ, nhà khoa học, các cựu học sinh Lê Hồng Phong đã về dự buổi tọa đàm, cùng đánh thức lại những ký ức vẹn nguyên về thầy Đào Văn Định kính yêu với một niềm xúc động, ngưỡng vọng khôn nguôi…

Nhà giáo Đào Văn Định (thứ 7 từ trái sang, hàng đầu) cùng các thầy cô giáo trẻ của trường THPT cấp III Lê Hồng Phong – Lý Tự Trọng năm 1959 - 1960.
Nhà giáo Đào Văn Định (thứ 7 từ trái sang, hàng đầu) cùng các thầy cô giáo trẻ của trường THPT cấp III Lê Hồng Phong – Lý Tự Trọng năm 1959 - 1960.

Trải qua gần 40 năm đứng lớp (từ năm 1923 đến năm 1962), trong đó có 12 năm (từ 1950 đến 1962), thầy giáo Đào Văn Định đã trực tiếp làm Hiệu trưởng đầu tiên và liên tục, từ trường Chuyên khoa Nguyễn Thượng Hiền đến trường Phổ thông cấp III Kháng chiến Liên khu III và, trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.

Cuộc đời thầy đã dành trọn vẹn cho Đảng, cho cách mạng, thầy đã góp phần xây nền đắp móng, cùng với tập thể giáo viên các thế hệ, vượt qua bao gian nan vất vả trong kháng chiến cũng như trong hòa bình, thủy chung một lòng, đóng góp công lao giáo dục và đào tạo nhiều thế hệ trẻ thành những công dân có ích cho đất nước, trong đó nhiều học trò của thầy đã đảm nhiệm các chức vụ chủ chốt, một số người đã trở thành chính khách như: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, GS.VS Phạm Minh Hạc; Chủ tịch Viện Khoa học quốc gia, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu; Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương…

GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD & ĐT chia sẻ kỷ niệm về người thầy kính yêu Đào Văn Định.
GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD & ĐT chia sẻ kỷ niệm về người thầy kính yêu Đào Văn Định.

Đặc biệt, một số học trò của thầy đã tự nguyện, tận tâm tiếp nối sự nghiệp trồng người mà thầy đã mở lối và khuyến khích để trở thành những người thầy giáo, cô giáo thủy chung, hết mình vì các thế hệ học trò.

GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo năm nay đã ngoài tám mươi tuổi, bước chân ông đã run run, ánh mắt đã mờ hơn vì tuổi già, nhưng ông vẫn trở về mái trường này để dự buổi tọa đàm về người thầy kính yêu. Ông liên tục phải ngừng lời vì xúc động: “Chúng tôi thật may mắn và tự hào là học sinh của thầy Hiệu trưởng Đào Văn Định, một nhà văn hóa và giáo dục tiêu biểu, đã lãnh đạo nhiều trường trung học trong cả nước trong những năm đầu xây dựng nền giáo dục cách mạng nước nhà.

Nhắc đến thầy Định, có những chuyện kể đi kể lại nhiều lần mà sao vẫn thấy mới, rất đỗi thân thương, gần gũi. Thầy đã mang ngọn lửa truyền thống yêu nước, cách mạng nhen nhóm thắp sáng những tâm hồn non trẻ lớn lên tận tâm phụng sự Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam mới.

Chúng tôi nhớ mãi những bài giảng của thầy đã cho chúng tôi nhiều kiến thức vững vàng, phương pháp tư duy khoa học, đủ sức đi tiếp các bậc học cao hơn, sánh kịp với các trường khác trong nước và cả nước ngoài.

Tôi nhớ mãi những giờ giảng Toán của thầy, giờ nào thầy cũng nghiêm trang, nhưng ánh mắt qua cặp kính của thầy dưới ngọn đèn dầu như nhìn thấu sự tiếp thu của từng học sinh, câu nào của thầy cũng “như đinh đóng cột”, khắc sâu cách chứng minh và cách ứng dụng bài tập toán một cách khoa học, chân lý vào tâm trí chúng tôi.

Họa sỹ Văn Thơ trao tặng trường THPT chuyên Lê Hồng Phong bức tranh kỷ niệm về thầy hiệu trưởng Đào Văn Định.
Họa sỹ Văn Thơ trao tặng trường THPT chuyên Lê Hồng Phong bức tranh kỷ niệm về thầy hiệu trưởng Đào Văn Định.

Hồi đó, thầy Định và các thầy khác dạy theo chương trình của cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, bắt đầu từ năm 1950, đâu có sách giáo khoa, chủ yếu theo phương pháp “thầy giảng và đọc, trò ghi”, giờ nào thầy giảng cũng say sưa, chúng tôi đều cảm nhận được sự tận tâm của thầy, vì thế chúng tôi nghe giảng vô cùng chăm chú, ghi chép cẩn thận, sáng hôm sau các nhóm học còn bổ sung, giúp đỡ cho nhau”…

Phó Giáo sư Nguyễn Trọng Quế, cựu giáo viên trường Phổ thông cấp III Liên khu III đã bồi hồi nhớ lại: “Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng một giáo sư, hiệu trưởng một trường lớn mà lại giản dị như thế. Thầy Đào Văn Định rất bình dị, khiêm nhường, luôn hòa mình với các thầy cô giáo và học trò. Tôi ít khi nghe thầy thuyết giảng về lòng yêu nước, tính cách mạng, nhưng thầy vẫn giữ được phong thái của người đứng đầu đầy trách nhiệm, quyết định sự phát triển của nhà trường. Chủ trương thống nhất ba trường nhỏ trong thời chiến thành trường lớn để phát triển mạnh trong thời bình chính là chủ trương của thầy Định. Chỉ đạo việc di chuyển và tự lực xây dựng cơ sở vật chất tại vùng mới giải phóng Ngô Khê cũng là sáng kiến của thầy. Trong việc đảm bảo chất lượng dạy học thì thầy rất nghiêm, việc ghi bài giảng, soạn giáo án trên lớp với thầy Định là kỷ luật. Cũng vì thế mà các lớp học sinh kháng chiến thiếu thốn mọi bề vẫn đạt được chất lượng cao không kém học sinh các nước phát triển”.

Rất nhiều học sinh của thầy Đào Văn Định, hôm nay đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, noi gương thầy cũng dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng người như GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng, GS.NGND Nguyễn Hải Hà. GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng cho biết, ấn tượng sâu sắc về thầy Đào Văn Định là thầy rất được kính trọng, bởi trước hết thầy là nhà sư phạm mẫu mực.

Thầy là bậc đàn anh của bao thầy giáo khác. Thầy là con người mô phạm, gương mẫu trong đối nhân xử thế, thầy không bao giờ quát nạt, mắng học sinh. Gia đình thầy Định cũng khó khăn như bao gia đình khác, nhưng thầy vẫn quyết tâm theo trường, theo kháng chiến. “Sau này lớn lên, tôi mới hiểu thầy Định thực sự là một trí thức yêu nước, yêu dân tộc, gắn bó với cách mạng trọn đời” – GS Nguyễn Hữu Tăng bộc bạch.

GS.TS, NGND Đào Văn Phan, người con thứ bảy của nhà giáo Đào Văn Định tâm sự, chia sẻ về người cha thân yêu.
GS.TS, NGND Đào Văn Phan, người con thứ bảy của nhà giáo Đào Văn Định tâm sự, chia sẻ về người cha thân yêu.

Ngoài việc dạy học, nhà giáo lão thành, Hiệu trưởng Đào Văn Định còn đảm trách nhiều công tác chính trị xã hội quan trọng liên tục trong vòng 20 năm. Ông từng là Bí thư Thành bộ Đảng Xã hội Việt Nam tỉnh Nam Định, Ủy viên Ủy ban hành chính tỉnh Nam Định, nhiều năm là đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, tỉnh Nam Hà và là đại biểu Quốc hội các khóa IV, V.

Có một điều không thể không nhắc đến là sau khi kết hôn cùng với bà Nguyễn Thị Thuần, vợ chồng thầy Đào Văn Định đã sinh được 12 người con. Cuộc sống thời kháng chiến vô cùng khó khăn, lại đông con nhưng thầy và người vợ tảo tần là bà Nguyễn Thị Thuần đã dày công nuôi dạy, rèn luyện các con, tất cả đều thành đạt, hầu hết đi theo con đường dạy học, trong đó người con cả của thầy là nhà giáo Đào Văn Phúc, nguyên Quyền Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo dục, Huân chương lao động hạng hai, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Các con thầy đều theo gương cha phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, đều được trao tặng huy hiệu 30 năm, 40 năm, 50 năm và 60 năm tuổi Đảng, trong đó thầy Đào Văn Phú trước khi nghỉ hưu là hiệu trưởng ĐH Sư phạm Ngoại ngữ; thầy Đào Văn Phong, tiến sỹ toán học, hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm Nam Định; GS.TS, NGND Đào Văn Phan, Chủ nhiệm bộ môn Dược lý, ĐH Y Hà Nội; thầy Đào Văn Phiên, Trưởng phòng giáo dục phổ thông, Sở GD & ĐT Hà Nam; cô giáo Đào Thị Phượng, Hiệu trưởng trường cấp II Mỹ Hà, thành phố Nam Định, chiến sỹ thi đua tỉnh Nam Định nhiều năm; cô Đào Thúy Phi, Trưởng khoa Dược, BV Phụ sản Hà Nội…

Thật tự hào khi thầy còn có hai người con trai mang quân hàm Đại tá là thầy Đào Văn Phùng, Trưởng khoa quân sự trường ĐH Bách khoa TP Hồ Chí Minh; Đại tá Đào Văn Phổ, Trưởng phòng Nghiên cứu Viện Hóa học và Công nghệ thuộc Trung tâm Khoa học – Kỹ thuật và công nghệ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng, từng đoạt giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ…

Tại buổi tọa đàm, các GS, VS, các PGS, nhà khoa học, các thầy cô giáo và các thế hệ học sinh của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đã cùng bày tỏ ước muốn, tha thiết đề nghị Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định xem xét đặt tên cho một trường trong tỉnh là “Trường THPT Đào Văn Định”, để tri ân công ơn thầy Đào Văn Định và cũng là để phát huy truyền thống hiếu học của học trò tỉnh Nam Định trên mọi miền Tổ quốc. Hy vọng ước muốn tốt đẹp mang ý nghĩa nhân văn đó sẽ sớm trở thành hiện thực trên đất học thành Nam.

Tại buổi tọa đàm, GS.TS, NGND Đào Văn Phan, người con thứ bảy của nhà giáo Đào Văn Định đã thay mặt gia đình gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Ban Liên lạc cựu học sinh trường Phổ thông cấp III Kháng chiến Liên khu III, cảm ơn Ban Giám hiệu trường THPT chuyên Lê Hồng Phong đã dày công để tổ chức buổi tọa đàm tâm huyết và giàu ý nghĩa này. GS.TS Đào Văn Phan cũng đã rơi lệ khi nhắc đến người cha, người thầy thân thương đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời ông và các con trong gia đình. Ông nghẹn ngào cho hay, có lúc ông cũng không thể tin được vì sao bố mẹ ông đã vượt được bao khó khăn của cuộc sống tản cư để nuôi dạy 11 người con (1 người con là Đào Văn Phát đã mất khi còn nhỏ - PV) thành người, tất cả đều siêng năng học hành, trở thành các trí thức, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước. “Có lẽ chính niềm tin mãnh liệt về kháng chiến, về Đảng và Bác Hồ đã trở thành lẽ sống, giúp bố tôi vượt qua mọi khó khăn, sắt son, thủy chung kiên định với con đường cách mạng và nghề dạy học mà ông yêu thích từ nhỏ” – GS.TS, NGND Đào Văn Phan tâm sự”…

Thu Phương – Đào Anh Tuấn

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.