Nhớ về ngày giải phóng tỉnh Bạc Liêu

Cách đây 46 năm, lúc 10h30 ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu.

Ít ai biết, để Bạc Liêu giải phóng trong an toàn là những giây phút căng thẳng đối đầu giữa cách mạng và chính quyền Sài Gòn.

Tỉnh ủy Bạc Liêu họp mở rộng tại xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân (Bạc Liêu) từ ngày 30/3 đến 4/4/1975, nhận định thời cơ giải phóng đã đến, lực lượng ta tuy có phát triển nhưng trang bị chưa đủ sức, còn phải tiếp tục tăng thêm vũ khí. Lực lượng chính trị có vươn lên nhưng tổ chức chưa chặt chẽ, cần phải xây dựng cho tốt hơn; nhiệm vụ này chủ yếu thị xã làm, nhưng các ngành đều dồn hết sức xuống thị xã để giữa tháng 4/1975, khắc phục được các mặt còn yếu.

Ngày 9/4/1975, Thường vụ Tỉnh ủy Bạc Liêu triệu tập cuộc họp bất thường để nghe báo cáo và đánh giá tình hình. Tại cuộc họp có đồng chí Đoàn Thanh Vị, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì và đồng chí Lê Quân, đặc phái viên Khu ủy khu Tây Nam Bộ. Hội nghị nghe các đồng chí báo cáo đặc điểm tình hình theo từng vị trí công tác và địa phương.

Ông Thích Quảng Thiệt (76 tuổi, một trong những nhân chứng sống) cho biết, cách đây 46 năm, ông Thiệt là một trong số ít người đứng ở vị trí 2 đầu chiến tuyến. Ông Thiệt lúc đó là Chánh thư ký Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu được Đại tá, Tỉnh trưởng Bạc Liêu Nguyễn Ngọc Điệp đưa vào chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng tử thủ tỉnh Bạc Liêu.

Ông Thiệt được quân ta cài vào chính quyền địch, nhận nhiệm vụ thông tin mọi hoạt động trong nội bộ Hội đồng tử thủ, để cung cấp cho Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh biết, nên có nhiều thông tin quý báu.

“Từ ngày 21/4, khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, chính quyền ngụy tại Bạc Liêu canh phòng rất kỹ. Trang bị vũ khí, quân lực cao để tăng cường tử thủ. Lúc này, Tỉnh trưởng Bạc Liêu Nguyễn Ngọc Điệp dự tính sẵn sàng chống cự đến cùng với phía quân cách mạng”, ông Thích Quảng Thiệt kể lại.

Đến ngày 24/4, ông Thiệt nhận được thông tin lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh gặp mặt để trao đổi một số thông tin liên quan đến chiến thuật giải phóng. Lúc này, ông Thiệt mới biết cách mạng cử một người vào ở trong chùa Vĩnh Đức để trực tiếp đấu tranh giành chính quyền.

Ngày 28/4, ông Thiệt đi đón ông Lê Quân (đặc phái viên Khu ủy Tây Nam Bộ, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu), người được Khu ủy và Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ trên. 

Sau khi ông Lê Quân vào chùa Vĩnh Đức, tại đây, từ 28 đến 29/4/1975, ông Lê Quân viết 2 lá thư gửi Tỉnh trưởng Bạc Liêu Nguyễn Ngọc Điệp thuyết phục chính quyền ngụy bàn giao chính quyền cho cách mạng. Ông Thiệt cho biết, 2 lá thư này nhờ ông Lê Thành Năng, lúc đó là Chủ tịch Nghiệp đoàn lao động tỉnh Bạc Liêu gửi trực tiếp cho Đại tá, Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp.

Từ việc gửi 2 lá thư và qua thông tin từ ông Lê Thành Năng, lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh phần nào biết được tâm trạng, khí thế của phía chính quyền ngụy tại Bạc Liêu.

Ông Nguyễn Tích Thiện - người treo lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam trên dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu lúc 10h30 ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu.
Ông Nguyễn Tích Thiện - người treo lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam trên dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu lúc 10h30 ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Đến ngày 28/4, Dương Văn Minh lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Lúc này, Tỉnh ủy Bạc Liêu nhận định, tình hình chiến sự sẽ có thay đổi nên quyết định thay đổi chiến thuật lấy quân sự làm điểm tựa và chuyển sang đấu tranh chính trị, binh vận là chính.

Tối ngày 29/4, tại chùa Vĩnh Đức, ông Lê Quân, Trần Thanh Hồng (lãnh đạo Cao Đài tại Bạc Liêu, Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh) và ông Thích Hiển Giác (trụ trì chùa Vĩnh Đức, Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh) cùng bàn bạc phương án cho ngày 30/4.

Theo hồi ký của ông Lê Quân (nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu), 7h sáng ngày 30/4/1975, xuất phát từ chùa Vĩnh Đức, phái đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh gồm: ông Lê Quân cùng với ông Trần Thanh Hồng, Thích Hiển Giác trực tiếp vào dinh Tỉnh trưởng gặp, vận động Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp bàn giao chính quyền.

Tại đây, đoàn đã có những giờ phút đối đầu hết sức căng thẳng, gay cấn để thuyết phục Tỉnh trưởng Bạc Liêu hạ vũ khí. Lúc đầu Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp cùng một số thuộc hạ còn ngoan cố không khuất phục và dọa sẽ tử thủ đến cùng.

Tuy nhiên, sau khi được đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh phân tích tình hình, Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp mới chính thức ra lệnh hạ vũ khí, bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Đúng 10h30’ ngày 30/4/1975, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam chính thức tung bay trên nóc dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu. Tỉnh Bạc Liêu hoàn toàn giải phóng trong an toàn, không đổ máu, trước Sài Gòn 1 giờ đồng hồ và là một trong những tỉnh ở Tây Nam Bộ giải phóng trước nhất.

“Lúc đó, lực lượng ngụy tại Bạc Liêu còn gần 12.000 quân, nếu Tỉnh trưởng Bạc Liêu vẫn tử thủ chiến đấu thì có lẽ đã xảy ra cuộc đổ máu ghê gớm lắm”, ông Thích Quảng Thiệt nhớ lại.

Ông Nguyễn Tích Thiện (người treo lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam lên dinh Tỉnh trưởng Bạc Liêu lúc 10h30 ngày 30/4/1975) nhớ lại, mình tham gia công tác năm 1968, đến 1972 được phát triển vào Đoàn. Khi nhận công tác chuẩn bị cho ngày 30/4/1975, thì được đồng chí Năm Quân (tức đồng chí Lê Quân, Phó Bí thư Tỉnh ủy lúc đó), phân công làm Đội trưởng Đội biệt động, gồm 9 nam 2 nữ.

Phương án đưa ra là không dùng vũ khí mà nói chuyện giãn binh. Đến sáng 30/4/1975, địch cho giới nghiêm, dây thép gai bao vây khắp nơi. Lúc này, cả Đội đã sẵn sàng tay súng trong hầm bí mật chờ lệnh. Tuy nhiên, lệnh chỉ huy đưa ra là huy động lực lượng thanh niên, học sinh cùng quần chúng phá vỡ giới nghiêm tạo áp đảo, gây áp lực cho Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp hạ vũ khí đầu hàng.

“Lúc này, trong đầu tôi suy nghĩ chỉ có mỗi cách treo cờ Tổ quốc lên, mới huy động được lực lượng quần chúng tham gia, mới phá được giới nghiêm. Tôi cầm lá cờ lên treo lên dinh Tỉnh trưởng, từ đó nhân dân ủng hộ, đổ ra đường hô to: Quân Giải phóng vô rồi, cách mạng vô rồi”, ông Nguyễn Tích Thiện kể. 

Toàn tỉnh Bạc Liêu tràn ngập niềm vui chiến thắng, người dân được đổi đời, gia đình đoàn tụ. Chiến thắng trong tinh thần hòa bình, không tiếng súng, không giọt máu rơi, chiến thắng rất đỗi nhân văn.

V.Đức – H.Huỳnh

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.