Nhìn từ cặp “Song Lang” vàng

Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XXI kết thúc với những đánh giá là thành công cả về lượng lẫn chất. Những đánh giá ấy không ngoa chút nào. Có thể nói, kỳ Liên hoan phim lần này thực sự rất thuyết phục khi giải thưởng cao quý nhất - giải Bông sen vàng - đã được trao cho “Song Lang”, một bộ phim xứng đáng.

Những ai đã từng xem “Song Lang” chắc chắn đều cho rằng đánh giá của Ban Giám khảo LHP Việt Nam XXI là chuẩn xác. Câu chuyện trong phim thực sự gần gũi với đời sống và cái cách tôn vinh văn hoá truyền thống (nghệ thuật cải lương) của phim không bị khiên cưỡng như rất nhiều phim gần đây.

Đặc biệt, đạo diễn Leon Quang Lê đã vượt qua được định kiến xưa nay của nhiều nhà phê bình khắt khe về cách mà các đạo diễn Việt kiều thể hiện nét văn hoá Việt trong phim. “Song Lang” không cần phải gồng lên để chứng tỏ nó là bộ phim đang ca ngợi nghệ thuật cải lương. Thay vào đó, “Song Lang” chọn hướng tiếp cận cải lương đời thường hơn, với đầy đủ các góc tối và cả các bi kịch xã hội.

Nhìn lại điện ảnh Việt khoảng hơn 20 năm trở lại đây, chúng ta sẽ thấy rõ một chặng đường rất chung của nhiều đạo diễn Việt kiều. Đó là con đường đi tìm lại bản sắc Việt, minh chứng bản sắc Việt trong tâm hồn, suy tư của những đạo diễn ấy. Nhưng bản sắc là một thứ vốn dĩ rất tự nhiên và một khi người ta cố gắng để thể hiện nó thì chính sự khiên cưỡng lại là thứ chống lại bản sắc ấy rõ rệt nhất.

Đã có nhiều tranh cãi xoay quanh các bộ phim của Trần Anh Hùng, của Lưu Huỳnh… là có đậm chất Việt hay không hay là chỉ cố gắng thể hiện “chúng tôi vẫn còn mang bản sắc Việt” của họ. Những tranh cãi ấy thậm chí có lúc còn gay gắt đến mức tạo nên vài mối quan hệ “không đội trời chung” trong giới phê bình phim và làm phim.

Nhưng “Song Lang” đã xuất sắc vượt qua được cái khiên cưỡng ấy. Cùng vài phim Việt gần đây, “Song Lang” đã ca ngợi vẻ đẹp Việt rất dung dị, đúng cách nhìn của những người Việt bình thường nhất. Cùng thời điểm, “Cô Ba Sài Gòn” cũng là một bộ phim ngợi ca tà áo dài Việt mà không cần phải biểu tượng hoá nó một cách quá mức.

Có lẽ, cách nhìn văn hoá Việt của lớp đạo diễn Việt kiều trẻ trung như Leon Quang Lê đã rất khác với lớp đạo diễn Việt kiều đi trước. Thời đại công nghệ thông tin đã cho phép họ tiếp cận với nhiều giá trị truyền thống của Việt Nam một cách thường nhật hơn trong suốt thời gian họ định cư ở nước ngoài.

Việc LHP Việt Nam XXI trao giải Bông sen Vàng cho “Song Lang” và giải đạo diễn xuất sắc nhất cho Leon Quang Lê là một ghi nhận kịp thời và xác đáng cho nỗ lực thay đổi phim Việt của những đạo diễn trẻ tuổi.

Giữa những ồn ào gần đây về Hội đồng duyệt phim nhà nước, giải thưởng cho “Song Lang” chính là một tín hiệu tích cực thực sự để khích lệ những người làm phim dấn thân hơn nữa với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, đặc biệt ở trong thời đại toàn cầu hóa có thể làm bão hòa rất nhiều thứ vốn dĩ đã là bản sắc riêng.

Văn Đoàn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.