Nhìn lại một dòng chảy thơ phổ nhạc

Lấy tiêu chí ưu tiên quy tụ thơ phổ nhạc của tác giả đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh hoặc viết trực tiếp về TP Hồ Chí Minh, “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” phác họa một bức tranh nghệ thuật độc đáo. Đồng thời, cuốn sách cũng hé lộ những điều chưa biết chung quanh những ca khúc phổ thơ nổi tiếng.

Công trình “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” có độ dày hơn 500 trang, do Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn, nhằm ghi nhận và tôn vinh những ca khúc phổ thơ, từ năm 1975 đến nay.

Theo nhịp điệu sôi động của tân nhạc Việt Nam, thơ phổ nhạc đã hiện diện như một kênh thẩm mỹ có sức rung động trong đời sống tinh thần người Việt Nam. Thậm chí, thơ phổ nhạc giữ vị trí quan trọng khi nhắc đến sự nghiệp của nhiều nhạc sĩ. Cho nên, nhìn lại dòng chảy thơ phổ nhạc, công chúng có thể hình dung được diện mạo sáng tạo ở cả hai lĩnh vực thi ca và âm nhạc.

ns hoang hiep 2.jpg -0
Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931-2013).

Cuộc gặp gỡ giữa thơ và nhạc, đôi khi là một khoảnh khắc bất ngờ, đối với cả nhà thơ lẫn nhạc sĩ. Ví dụ, “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” đã vang lên suốt nửa thế kỷ vừa qua, nhưng không mấy ai tường tận sự ra đời của ca khúc này.

Tháng 5/1975, nhà thơ Đăng Trung (1939-2019) là phóng viên đi thực tế viết bài về đô thị phương Nam sau ngày giải phóng, đã có cảm hứng viết thêm những vần thơ để in kèm vào thiên ký sự. Tuy nhiên, do khuôn khổ tờ báo hạn chế, những vần thơ của Đăng Trung không thể xuất hiện trên mặt báo. Nhân dịp gặp nhạc sĩ Cao Việt Bách tại Sài Gòn cùng thời điểm ấy, nhà thơ Đăng Trung liền giới thiệu bản thảo của mình. Có được sự đồng cảm, nhạc sĩ Cao Việt Bách sáng tác nên ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”.

Ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” được công diễn lần đầu tiên trên Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi nhạc sĩ Cao Việt Bách đảm nhận vai trò chỉ huy dàn nhạc. Vì sao khi non sông vừa liền một dải, nhà thơ Đăng Trung đã viết “Thành phố Hồ Chí Minh ngời ngời rực sáng tương lai”? Lúc đó, Sài Gòn chưa đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng nhà thơ Đăng Trung dựa vào câu thơ “Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” trong bài thơ “Ta đi tới” ra đời tháng 8/1954 của nhà thơ Tố Hữu.

Với thể loại thơ phổ nhạc, ý tứ của nhà thơ và giai điệu của nhạc sĩ đã cộng hưởng để mang đến những món quà nghệ thuật có sức lay động tâm hồn thật sâu lắng. Từ bài thơ đến ca khúc, ngỡ rất gần mà cũng rất xa. Khoảng cách vừa cụ thể vừa mơ hồ kia phụ thuộc vào sự đồng điệu giữa nhà thơ và nhạc sĩ.

Thơ có đặc thù riêng của thơ, mà nhạc có đòi hỏi riêng của nhạc. Có những bài thơ rất hay, nhưng không thể phổ nhạc. Ngược lại, có những bài thơ không có gì nổi trội trên văn bản, lại được phổ nhạc thành ca khúc đi vào lòng người. Đó là duyên phận của tác giả, và đó cũng là duyên phận của tác phẩm. Thế nhưng, căn cứ vào những ca khúc có sức lan tỏa, vẫn thấy được một quy tắc chung, khi và chỉ khi tâm hồn nhà thơ và tâm hồn nhạc sĩ có cùng một tần số xao xuyến, thì thơ phổ nhạc mới đủ sức thuyết phục công chúng.

Mỗi bài thơ đến với bạn đọc luôn gồm hai yếu tố, ngữ âm và ngữ nghĩa. Thơ được chọn phổ nhạc, thường có ưu điểm về ngữ âm hơn ngữ nghĩa. Bằng phẩm chất nghề nghiệp, nhạc sĩ nhận ra ngữ âm của bài thơ có tiết tấu để triển khai khúc thức. Và giai điệu dắt từng câu thơ đi xa. Và giai điệu đưa từng ý thơ bay cao. Không ít bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc với những phong cách khác nhau, không chỉ chứng minh ngôn từ mềm mại của nhà thơ, mà còn phô diễn tài năng của nhạc sĩ. Đối chiếu bài thơ và lắng nghe ca khúc ở các trường hợp thú vị ấy, càng hiểu rõ thêm sự tương tác giữa thi ca và âm nhạc.

Có nhạc sĩ phổ nguyên vẹn bài thơ, có nhạc sĩ phổ vài đoạn thơ và có nhạc sĩ chỉ cần mượn không khí trữ tình và một số chữ của bài thơ đã có thể viết nên một ca khúc quyến rũ. Chẳng có công thức nhất định cho thơ phổ nhạc. Chỉ biết rằng, nếu nhà thơ viết bài thơ để nhằm mục đích phổ nhạc, hoặc nhạc sĩ phổ nhạc để chiều chuộng sở thích của nhà thơ, thì chắc chắn không thể có tác phẩm thơ phổ nhạc có giá trị. Nói cách khác, thơ phổ nhạc không thể cưỡng cầu và cũng không thể gượng ép. Với trình độ tiếp nhận hôm nay, công chúng chẳng mấy khó khăn để phân biệt hát thơ và thơ phổ nhạc.

Trong cuốn sách “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh”, giới mộ điệu được hiểu thêm nhiều tâm sự của những người làm nên các ca khúc nổi tiếng. Chẳng hạn, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn chia sẻ: “Tôi luôn mong ước được viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cơ duyên gặp được bài thơ “Dấu chân phía trước” của nhà thơ Hồ Thi Ca, đã giúp tôi nói hộ nỗi lòng của con dân đất Việt dành cho vị lãnh tụ kính yêu. Khi viết, tôi đã dành nhiều nét nhạc để khắc họa hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành một mình bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm đường giải phóng dân tộc. Tôi chọn câu thơ “khi tôi còn là hạt bụi, Người đã lên tàu đi xa” để mở đầu bài hát, không ngờ tạo được hiệu quả ấn tượng với khán giả”.

Tương tự, nhà thơ Nguyễn Nhật Ánh có bài thơ “Thành phố tình yêu và nỗi nhớ” được phổ nhạc thành ca khúc quen thuộc, bày tỏ: “Năm 1979, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, rất nhiều thanh niên TP Hồ Chí Minh lên đường tham gia vệ quốc, trong đó đồng đội thanh niên xung phong của tôi sát cánh các đơn vị bộ đội để bắc cầu, cáng thương, tải đạn… Vì vậy, tôi viết “Mai chiến trường xa/ Dẫu nhiều gian khổ/ Trái tim thành phố/ Vẫn đập trong người/ Như là cuộc sống/ Như là tình yêu/ Như là nỗi nhớ/ Suốt đời mang theo”. Nói chung, cảm hứng sáng tác của thế hệ cầm bút chúng tôi lúc đó chủ yếu là cảm hứng công dân, gắn liền với biến động của thời cuộc, với lòng yêu nước cháy bỏng”.

Cuốn sách “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” cũng chứng minh nhiều nhạc sĩ đã thành danh trong bom đạn, vẫn tiếp tục cống hiến trong hòa bình. Điển hình là nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1931-2013) từng có các ca khúc phổ thơ “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Lá đỏ”, “Ngọn đèn đứng gác”, “Cô gái vót chông”, “Đất quê ta mênh mông” trong kháng chiến chống Mỹ. Sau năm 1975, nhạc sĩ Hoàng Hiệp tiếp tục chinh phục khán giả bằng những ca khúc phổ thơ như “Con đường có lá me bay” và “Mùa chim én bay” phổ thơ Diệp Minh Tuyền hoặc “Đánh mất” phổ thơ Thanh Nguyên.

tho pho nhac.jpg -1
Công trình phác thảo dòng chảy thơ phổ nhạc ở đô thị phương Nam.

Không ai đưa ra được công thức thành công cho một ca khúc thơ phổ nhạc, nhưng sự gặp gỡ giữa nhà thơ và nhạc sĩ trở thành một điểm hẹn nghề nghiệp thú vị. Đôi khi, thơ phổ nhạc kết nối hai thế hệ cách xa nhau về tuổi tác. Trong những tác phẩm được truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2017 của nhạc sĩ Văn Chừng (1938-2006) có ca khúc “Đêm xoang Tây Nguyên” được phổ từ bài thơ của nhà thơ Đào Phong Lan (sinh năm 1975).

Vì vậy, công chúng từng nghe “Đêm xoang Tây Nguyên” sẽ thêm yêu ca khúc này khi nghe nhà thơ Đào Phong Lan bộc bạch: “Năm 1994, tôi là sinh viên năm hai Trường Viết văn Nguyễn Du trở về quê nhà Pleiku để nghỉ hè. Như thường lệ, tôi lại theo ba tôi rong ruổi những chuyến điền dã vào các buôn làng, ba tôi là nhạc sĩ nghiên cứu âm nhạc bản địa Tây Nguyên. Tôi đã đến những buôn làng người Jrai, Bahnar, ăn món thịt nướng, món cá treo gác bếp, miếng cơm gạo đỏ dẻo ngọt. Và hầu như ở đâu tôi cũng được tham dự một đêm xoang…

Những hình ảnh, âm thanh đặc biệt của những đêm xoang ấy là những ký ức đẹp đẽ. Khi trở về, tứ thơ “Đêm xoang Tây Nguyên” đã đến trong một đêm thanh vắng. Tôi viết một mạch, trong đầu văng vẳng tiếng cồng chiêng và hình ảnh những chàng trai, cô gái say sưa xoang bên ánh lửa bập bùng. Bài thơ sau đó được in trong tập “Giêng Hai” năm 1995. Nhân một dịp nhạc sĩ Văn Chừng ghé thăm gia đình, ba tôi đã tặng nhạc sĩ tập thơ này. Quay về lại Nha Trang, vài tháng sau, nhạc sĩ Văn Chừng đã gửi cho tôi nghe bài hát “Đêm xoang Tây Nguyên”. Bài hát sau đó trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi tại những lễ hội trên các tỉnh Tây Nguyên, bởi giai điệu vui tươi, sôi nổi”.

Những người biên soạn “Thơ phổ nhạc - 50 năm thành phố Hồ Chí Minh” không có tham vọng tổng kết thành tựu thơ phổ nhạc ở đô thị phương Nam từ năm 1975 đến nay, mà chỉ giới thiệu một phác thảo khá khiêm tốn so với sức sống lan tỏa của rất nhiều khúc hát được sáng tác từ thơ. Bên cạnh những nhà thơ và những nhạc sĩ đã định danh, cuốn sách cũng mạnh dạn giới thiệu những tác giả ít tên tuổi, nhưng cũng đã có những tác phẩm ít nhiều khẳng định được tiêu chí nghệ thuật của thơ phổ nhạc.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).