Nhiều sai sót trong một cuốn sách tiểu sử

Cuốn sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” do NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật phát hành năm 2018, thuộc Chương trình sưu tầm tài liệu; viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng và Cách mạng Việt Nam, có quá nhiều sai sót.

Cuốn sách gồm 7 chương, “giới thiệu một cách cụ thể cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp lãnh đạo của đồng chí Lê Quang Đạo, từ quê hương, gia đình, tuổi thơ, những hoạt động yêu nước đầu tiên tại quê nhà đến những trọng trách lãnh đạo lớn lao được Đảng và Nhà nước giao phó” như Nhà xuất bản cho biết.

Thiếu kiến thức về cổ sử

Điều đầu tiên cho thấy, có lẽ những người viết sách này thiếu kiến thức về cổ sử Việt Nam cho nên viết nhiều sự kiện, nhân vật sai sót và võ đoán. Chúng tôi xin nêu một vài ví dụ cụ thể dưới đây.

Trang 21 viết Nguyễn Đăng Đạo được phong “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Không rõ ai phong cho Nguyễn Đăng Đạo là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”? Phải chăng là nhóm tác giả viết sách? Chứ còn Trạng nguyên phải do nhà vua phong. Trong lịch sử thì Nguyễn Đăng Đạo đỗ đầu cả 3 kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình, được vua Lê Hy Tông phong Trạng nguyên nhưng chưa bao giờ Nguyễn Đăng Đạo được phong “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Vẫn trang 21 này, sách viết về Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang “nhiều lần được cử tiếp sứ nhà Nguyên”. Tuy nhiên, các tác giả không cho biết đó là những lần nào. Theo chúng tôi được biết thì trong chính sử (“Đại Việt sử ký toàn thư”) không chép lần tiếp sứ nhà Nguyên nào có Nguyễn Quan Quang. Còn trong dân gian thì chỉ viết có một lần (Chuyện Nguyễn Quan Quang đuổi quân Mông Cổ  bằng hòn đá ném xuống ao bèo). Mà chuyện dân gian thì chỉ mang tính chất giải trí, khi chép vào chính sử phải hết sức cân nhắc.

Sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” nhiều sai sót.
Sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” nhiều sai sót.

Trang 22, sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” viết: “Trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nhiều nhà thơ, nhà văn có tên tuổi, có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà. Thời Lê có Vũ Mộng Nguyên với “Vị Khê thi tập”, Nguyễn Thiên Tích với “Tiên sơn thi tập”, Đào Cừ - Đàm Văn Lễ với “Thiên Nam dư hạ tập”, Nguyễn Đăng Đạo với “Phụng sứ tập…””.

Thứ nhất, nhóm tác giả viết “Thiên Nam dư hạ tập” gồm Đào Cừ và Đàm Văn Lễ là sai. Đây là tác phẩm do Lê Thánh Tông (chủ trì), Đỗ Nhuận và Nguyễn Trực (biên soạn). Thứ hai, chỉ có Tiến sĩ Đào Cử, chứ không có Đào Cừ.

Về tác phẩm “Vị Khê thi tập”, những người viết sách không dẫn nguồn cho nên chúng tôi không rõ có sách này hay không? Chúng tôi có tra trong thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì không có tên tác phẩm này. Và tác giả Vũ Mộng Nguyên cũng không để trước tác độc lập nào. Về tác phẩm “Tiên sơn thi tập”, nhóm tác giả viết là của Nguyễn Thiên Tích nhưng kiểm tra trong thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi cũng không thấy có. Duy trên trang mạng Thivien.net lại ghi là “Tập văn tiên sơn” nhưng chỉ dẫn ra có 1 bài tên “Mao trai thi hoài”. Có phải những người viết sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” muốn nhắc đến bài thơ này chăng?

Liền đó, trang 23 có viết về các danh tướng theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương năm 542. Trong đó có danh tướng mang tên Tuy Ông ở huyện Gia Lương. Huyện Gia Lương là tên cũ, nay là hai huyện Gia Bình và Lương Tài. Không rõ danh tướng Tuy Ông quê ở đâu. Những người viết sách cũng không cho biết Tuy Ông được xã nào, làng nào thờ. Hành trạng danh tướng này cũng không rõ. Theo chúng tôi võ đoán, chắc là nhóm tác giả chép trong thần tích vãng lai nào đó (?).

Cũng phải nói thêm về sự cẩu thả của những người viết sách khi trích dẫn tài liệu. Điều này thể hiện ở trang 20, chú thích đánh số 1, có giới thiệu cuốn sách của hai tác giả Huy Cơ – Trần Đình Luyện mang tên “Danh nhân kinh tế”, NXB Văn hóa Dân tộc, 1999. Song, chúng tôi biết hai ông Huy Cờ – Trần Đình Luyện chỉ có cuốn sách mang tên “Danh nhân Kinh Bắc”, do NXB Văn hóa Dân tộc phát hành năm 1999.

Nhiều sai sót về sự kiện và nhân vật

Trong sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” còn cho thấy nhiều sai sót về sự kiện Lịch sử Đảng và cán bộ Cách mạng. Đây là điều khó hiểu vì sách thuộc Chương trình sưu tầm tài liệu; viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng và Cách mạng Việt Nam. Tham gia biên soạn đều là những chuyên gia đầu ngành Lịch sử Đảng. Vì sao lại để nhiều sai sót như vậy? Chúng tôi xin dẫn chứng cụ thể.

Vào năm 1939, tình hình thế giới có nhiều thay đổi. Phát xít Đức xâm lược Ba Lan, mở màn cho Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để chống đế quốc, chống chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và chế độ phong kiến, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

Ở trang 53 và trang 54 sách “Lê Quang Đạo tiểu sử”, nhóm biên soạn viết: “Chỉ đạo phong trào tỉnh Bắc Ninh là đồng chí Trần Quốc Hoàn. Trực tiếp hoạt động ở Từ Sơn, Bắc Ninh là các đồng chí Phạm Văn Đông (Đồng), Kỳ Vân”. Chúng tôi đối chiếu với sách Lịch sử Đảng bộ huyện Từ Sơn do Ban chấp hành Đảng bộ huyện Từ Sơn xuất bản năm 2004, cho biết, người chỉ đạo phong trào tỉnh Bắc Ninh thời gian này là đồng chí Lê Hoàng và đồng chí Phạm Văn Đông, cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ (trang 62). Đồng chí Lê Hoàng sau này làm Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên (1970-1976).

Như vậy, không có chuyện đồng chí Trần Quốc Hoàn chỉ đạo phong trào cách mạng ở tỉnh Bắc Ninh năm 1939. Thêm vào đó, khi viết “Phạm Văn Đông (Đồng), Kỳ Vân” khiến bạn đọc hiểu đây là hai người nhưng thực sự chỉ là một người. Đó là ông Phạm Văn Đông tức Kỳ Vân, chứ không phải Phạm Văn Đồng. Ông Phạm Văn Đông tức Kỳ Vân, sau này tham gia Biên ủy Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản).

Chúng tôi đối chiếu với “Lịch sử xã Đình Bảng” (tập 1), xuất bản năm 2001, viết như sau: “Đình Bảng giáp Hà Nội, là cửa ngõ mở thông lên phía Bắc. Đến giữa năm 1939, ở đây đã có một mạng lưới cơ sở cách mạng rộng, có phong trào cách mạng sôi nổi. Nhìn rõ tầm quan trọng ấy, đồng chí Lê Hoàng đại diện Xứ ủy Bắc Kỳ về trực tiếp phụ trách phong trào cách mạng Bắc Ninh – Bắc Giang đã cử đồng chí Phạm Văn Đông (tức Kỳ Vân) cán bộ của Xứ ủy Bắc Kỳ đi sâu xuống Đình Bảng và khu vực Phù Lưu, Cẩm Giang, Trang Liệt, Phù Chẩn để nhanh chóng thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ” (trang 82).

Xem thêm sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh”, tập I (1926-1954) do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh xuất bản, năm 1998, cũng ghi rõ: “Mùa xuân năm 1939, đồng chí Lê Hoàng được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về phụ trách hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang” (trang 88) và “Tháng 4-1940, Xứ ủy Bắc Kỳ cử đồng chí Phạm Văn Đông (Kỳ Vân) phụ trách tỉnh Bắc Ninh thay đồng chí Lê Hoàng” (trang 89).

Sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” viết tiếp: “Đầu năm 1941, lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Tháng 5-1941, tại Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám” (trang 59).

Năm 1941 tên gọi Hồ Chí Minh chưa ra đời, khi đó vẫn là Nguyễn Ái Quốc. Phải đến tháng 8 năm 1942, tên gọi Hồ Chí Minh mới chính thức xuất hiện. Các tác giả đang viết tiểu sử cho nên sự kiện lịch sử cần phải chính xác với thời điểm lịch sử của một con người.

Trang 76 viết: “Cuối năm 1944, đồng chí Lê Quang Đạo chủ trương cho phát hành tại Hà Nội tờ báo bí mật mang tên “Hồn nước”, làm cơ quan tuyên truyền cho Đoàn Thanh niên Cứu quốc, do đồng chí Lê Đức Vân phụ trách, đặt trụ sở tại số nhà 15 phố Hàng Phèn”.

Chú thích đánh số 1 cho biết: “Cán bộ báo Hồn nước có các đồng chí Trần Thư, Mai, Luận, Phúc”. Không có 2 người làm báo “Hồn nước” có tên là Mai và Luận, mà đó là một người tên gọi Mai Luân. Ông Lê Đức Vân hiện còn sống. Những người viết sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” có thể đến hỏi ông để biết rõ về ông Mai Luân.

Trang 35 sách “Lê Quang Đạo tiểu sử” viết: “Khi thực dân Pháp xâm lược, Đình Bảng từng là địa điểm Đề Thám đóng đại bản doanh để chỉ đạo vụ đầu độc ở Hà Thành”. Nhằm chứng minh và làm rõ cho nhận định này, các tác giả dẫn bài vè ở Đình Bảng ghi lại sự kiện này như sau: “Đình Bảng rền tiếng súng vang/ Ông Đề xuống chiếm Bắc Giang tỉnh thành/ Sơn, Tuyên, Thái, Lạng, Nghệ, Thanh/ Bốn phương hưởng ứng dẹp bình như chơi”.

Có vẻ như sự kiện được nhắc đến và bài vè chẳng ăn khớp gì với nhau. Mong các tác giả xem lại. Bởi vì các tài liệu lịch sử cho thấy, vụ đầu độc ở thành Hà Nội năm 1908 là vụ mưu sát và binh biến trong hàng ngũ đầu bếp và binh lính người Việt. Mục đích của họ nhằm đầu độc quân Pháp để chiếm Hà Nội, thêm sự tiếp ứng và chỉ đạo từ bên ngoài của nghĩa quân Đề Thám cùng với sự tham gia của Phan Bội Châu.

Nhưng đây hoàn toàn chỉ là cuộc đầu độc trong bữa ăn của Đội Nhân (tức Đặng Đình Nhân) cùng bếp Hiên (tức Hai Hiên), cùng với bếp Xuân, bếp Nhiếp, tất cả 13 người. Sự kiện này chẳng có gì liên quan đến việc Đề Thám xuống chiếm thành Bắc Giang như trong bài vè ở Đình Bảng mà những người viết sách nêu ra. Trong dân gian vẫn có câu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, xét trong trường hợp này, chúng tôi thấy cũng có lý.

Khải Mông

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).