Nhẩn nha với  “Ủ hồng bếp lửa”

Ai đã từng có những năm tháng tuổi thơ gắn với bếp lửa thực tế và bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt trong văn học nhà trường chắc chắn sẽ cảm nhận đầy đủ sự ấm áp tỏa ra từ "Ủ hồng bếp lửa"

Nhan đề "Ủ hồng bếp lửa" thật sự giàu sức gợi, bếp lửa với người Việt Nam bao đời nay là biểu tượng của đầy đủ vật chất và ấm áp tinh thần. Nếu "Bếp lửa" của Bằng Việt gợi trong ta sự ấm áp về tình bà cháu thì trong thơ Vũ Thanh Thủy là tình cảm vợ chồng. Lâu nay đàn bà, trong quan niệm truyền thống là người giữ lửa, giữ hạnh phúc gia đình.

Nhan đề tập thơ cũng chính là nhan đề rút gọn của bài thơ ấm áp nhất trong cả tập, có tên "Ủ hồng bếp lửa":

Ủ hồng bếp lửa

Không thể tắt, không thể mất khi hồn làng ở đấy
Ủ tình nhau bằng củi cháy, men rừng

Trai bản yêu vợ bền như lòng bếp
Gái núi cời than âm ỉ giữ chồng
Cáu bẳn nhọc nhằn quăng ngoài bậc cửa

image001.jpg -0
Bìa tác phẩm “Ủ hồng Bếp lửa” của nhà thơ Vũ Thanh Thủy.

Đặc sắc của bài thơ nằm ở câu cuối "Cáu bẳn nhọc nhằn quăng ngoài bậc cửa", câu thơ phản ánh hiện thực một cách rất nên thơ. Ai trong đời chẳng có lúc "cáu bẳn", cuộc sống này dẫu thi vị vẫn có những lúc nhọc nhằn. Với người dân miền núi, lao động chân tay vất vả thì sự nhọc nhằn còn nhiều hơn. Tuy nhiên, khi thấy ánh sáng ấm áp của bếp lửa thì chỉ còn hiện diện niềm vui và tình yêu thương. "Cáu bẳn nhọc nhằn quăng ngoài bậc cửa",  đó là hệ quả của tình yêu như lửa cháy vững bền, âm ỉ, bền bỉ qua tháng năm, bởi "Trai bản yêu vợ bền như lòng bếp" và "Gái núi cời than âm ỉ giữ chồng", có sự tương đồng, hô ứng của cặp câu 4 và 5 trong bài thơ 6 câu gọn gàng, xinh xắn.

Tình người đàn ông trong thơ Vũ Thanh Thủy ví như lòng bếp, bếp của năm tháng, bếp của no ấm, bếp của từng trải và chứa đựng. Bếp trong thơ Vũ Thanh Thủy là chủ thể trong một gia đình thực sự không thể thiếu, nhưng để giữ ấm bếp còn ai ngoài người phụ nữ suốt cuộc đời cời lên ngọn lửa yêu thương âm ỉ không bao giờ lụi tắt. Bài thơ vẽ ra một không gian đầm ấm, rất tình nhưng chân thành và gần gũi. Đó cũng là hồn cốt cả tập thơ.

"Ủ hồng bếp lửa" gợi cảm giác ấm áp lan truyền, thân thương, trìu mến. Cũng gợi ra ân tình đặc biệt của người phụ nữ - người vợ, người mẹ, người bà. Phụ nữ là "người giữ lửa" cho mái ấm gia đình và Vũ Thanh Thủy (như tôi được biết), trước hết, là một phụ nữ của gia đình - người phụ nữ "vượng phu ích tử" luôn biết chăm lo cho chồng, con.

Nhà văn Vũ Thanh Thủy tính đến nay đã xuất bản 9 tập thơ và 1 tập truyện ngắn dành cho thiếu nhi. Với một nhà văn trẻ, "gia tài" này được gọi là đáng kể. Trong số 9 tập thơ của Vũ Thanh Thủy, tôi thích hơn cả là giọng thơ trong "Lối sen sương" và "Ủ hồng bếp lửa" (thể thơ 1-2-3).

Tôi yêu thơ 1-2-3 bởi lẽ:

"Thơ 1-2-3 mỗi bài thơ là một chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn 6 câu.

Đoạn 1 chỉ có 1 câu, tối đa 11 chữ, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện.

Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ.

Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ.

Chữ càng tinh lọc, càng đa nghĩa càng có giá trị.

Đề tài thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện.

Đặc biệt khuyến khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng thời giữa câu 1 và câu 6 có tính hô ứng để nội dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng biệt.

Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3".

Thơ 1-2-3 khiến cảm xúc không bị gò bó bởi niêm luật quá khắt khe, vì thế nó phù hợp nhịp sống hiện đại.

Chỉ vài ngày lạnh đủ thương nhau

Len ấm hay tình nàng ấm
Đo lòng nhẫn nại vì nhau

Dâng chồng từng mũi đan khâu
Áo yêu tay buông hết lạnh
Trời thương thả rét quay đầu

Tôi dám chắc câu thơ "Dâng chồng từng mũi đan khâu" sẽ gây nhiều tranh cãi. Chữ "dâng" kia là hành động gói trọn yêu thương - cho những ai cũng suy nghĩ như Vũ Thanh Thủy.

Cách thể hiện tình yêu thương này bắt nguồn từ hình ảnh "Nàng Bân may áo cho chồng". Cứ vậy, tôi hình dung đó là em - nhà văn Vũ Thanh Thủy đang chịu khó, chịu thương từng ngày từng ngày đan khâu chiếc áo cuộc đời dẫu chậm muộn nhưng lại là không muộn.

 Còn khoảnh khắc khác là quan sát con chơi.

Gundam

Chú bé say sưa với các mảnh gundam rời rạc
Lắp ghép

Sau một hồi nhựa thành người cử động
Thế giới tuổi thơ thời a còng mở rộng
Chú bé thỏa thích chơi

Và cũng vậy, tôi nghĩ đây là hai bé Bình An và Thiên An con trai của Vũ Thanh Thủy đang say mê "thỏa thích chơi". Trong ánh nhìn âu yếm, người mẹ không thấy việc con chơi là xấu hay đáng lo ngại mà ngược lại, người mẹ tôn trọng khoảnh khắc con được sống đúng nghĩa tuổi thơ. Nếu như thời trước, Giang Nam từng mô tả trong bài thơ "Quê hương": "Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/có những ngày trốn học bị đòn roi" thì ngày nay, tuổi thơ của trẻ phải là được thư giãn vui chơi, được về quê đắm mình vào không gian yên tĩnh… Vì thế, bài thơ của Vũ Thanh Thủy càng có giá trị, khiến nhiều bậc làm cha, làm mẹ phải nhìn lại mình trong quan niệm về tuổi thơ của trẻ.

Sâu nặng trong cung bậc cảm xúc, "Ủ hồng bếp lửa" còn phải kể đến bài thơ "Chớm rét".

Chớm rét

Lạnh ngồi đan áo cho con
Liệu mai gái mẹ vuông tròn hay không

Chân non bước vào nhà chồng
Mẹ thấp thỏm, mẹ phập phồng lo âu
Len này thay mẹ ấm lâu.

Bài thơ là nhớ thương, là hoài niệm về người mẹ kính yêu đan áo, dệt vào mũi chỉ đường kim là ấm áp, yêu thương, là vẹn tròn hạnh phúc, "Lạnh ngồi đan áo cho con/ Liệu mai gái mẹ vuông tròn hay không" từ cử chỉ, hành động đến suy tư của mẹ đều thiết tha, trìu mến và trĩu nặng ân tình. Đọc câu thơ này, chắc hẳn ai cũng cảm nhận được đúng nghĩa câu hát "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào". Lo lắng của mẹ là tấm lòng của mẹ, là lo lắng có tính chất truyền thống của tình mẹ bao la, lo cho con về sự vuông tròn bởi hạnh phúc ở đời không dễ, lo cho còn non dại… và người con gái cảm nhận được tình thương của mẹ "Len này thay mẹ ấm lâu".         

Vũ Thanh Thủy còn là một nhà thơ biết quan sát tinh tế và cảm nhận cuộc sống khá sâu sắc. Vũ Thanh Thủy nhạy cảm với không gian, thời gian và cỏ cây hoa lá. Đó cũng chính là tố chất của người làm thơ.

Lên Mộc Châu thấy mận đan xanh tím tạo nên một màu sắc rất riêng, bắt mắt du khách thập phương và ấn tượng nhất là hình ảnh những người dân miền núi cõng gùi trĩu nặng trên lưng, "cười loang bản".

Mộc Châu mùa thu hái

Quả đâu treo nhiều thế
Chùm chùm tím chen xanh

Đồng bào mùa thu hái
Gùi nâng bổng sức mình
Trĩu lưng cười loang bản

Đó là tiếng cười trong trẻo, vô tư, hồn nhiên và hạnh phúc, nụ cười của người nông dân được mùa. Tôi cùng đi với Thủy chuyến lên Mộc Châu đó, bạt tràn mận vào mùa thu hái, bạt tràn sắc tím của quả mận chín xen sắc xanh của lá cây. Nếu không có tâm hồn thi sĩ chắc chỉ thấy đẹp, thấy không gian của vườn mận chín là không gian bắt mắt để check-in. Nếu có sự tinh tế, có cái nhìn của thi sĩ sẽ thấy đó còn là không gian của ấm no, hạnh phúc. Khách du lịch thập phương đổ về, những nụ cười loang bản sẽ còn loang xa nữa, loang qua rừng, qua núi, vượt khỏi ranh giới Mộc Châu.

Vũ Thanh Thủy, ở những bài thơ khác đều thể hiện mạch nguồn nhân văn trong ánh nhìn và cách nghĩ, khi thì "Giữa đêm thức giấc tiễn người lạ", khi thì thương thân phận những người ở lại khi tiễn một người đi qua đám tang gặp trên đường, thương những phận người, phận đời chưa từng suôn sẻ… Và trong tập thơ còn có nhiều bài thơ về nhân tình thế thái, về kiếp nhân sinh phù du.

Đa dạng về nội dung, linh hoạt trong sáng tạo ngôn từ; bên cạnh nhiều bài thơ cô đọng, ý vượt xa ngoài lời, dành khoảng trống cho độc giả tiếp nhận là những bài thơ sử dụng ngôn từ giản dị, chắt lọc từ vốn từ phong phú trong "gia tài" ngôn ngữ của nhà văn luôn cầu thị và trách nhiệm với cuộc đời, Vũ Thanh Thủy đặt tên cho tập thơ của mình là "Ủ hồng bếp lửa" khiến người đọc cảm nhận được sự ấm áp chính là tâm điểm của cả tập thơ. Từ “Bếp lửa” ấy nhen lên và nhân rộng khát vọng hạnh phúc, ấm no, đủ đầy, viên mãn…

Đây là tập thơ giàu giá trị hiện thực, mang đậm dư vị triết lý nhân sinh. Một tập thơ đáng đọc, đáng để luận bàn, tập thơ làm cho gia tài văn học của Vũ Thanh Thủy thêm bề thế. Cảm ơn nhà văn đã khiến tôi thêm yêu thơ 1-2-3 và yêu cuộc sống đa sắc màu.

Tháng 8/2024

Đỗ Nguyên Thương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).