Nhân Mỹ học đường: Nơi lan tỏa cái đẹp

Nhân Mỹ học đường được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2005, được quý chức sắc Phật giáo trụ trì các cơ sở tự viện tạo điều kiện cho tổ chức các lớp học tại chùa Nhân Mỹ, chùa Mễ Trì Thượng. 

Là một bộ phận của Phòng Chuyên môn – Tổng hợp trực thuộc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), Nhân Mỹ học đường thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng về chữ Hán, thư pháp chữ Hán và các giá trị văn hóa truyền thống thông qua cứ liệu ngữ văn Hán – Nôm. Trong 10 năm qua, Nhân Mỹ học đường đã bồi dưỡng, đào tạo miễn phí cho 9 khóa học, với 3 chương trình riêng biệt cho khoảng 1.000 học viên về tìm hiểu, thực hành và phát triển những kỹ năng, phục vụ việc duy trì, phát huy giá trị văn học tôn giáo truyền thống qua lớp dạy chữ Hán – Nôm tại các di tích.

Với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, thư pháp gia có uy tín nên chất lượng đào tạo đã được khẳng định. Dù tham gia viết thư pháp tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời gian còn “khiêm tốn”, nhưng uy tín Nhân Mỹ học đường ngày càng được nâng lên qua các kỳ sát hạch.

Cụ Lan, 90 tuổi, trú tại Mỹ Đình mới đăng ký học thư pháp tại Nhân Mỹ học đường. cụ cho biết, "học chữ" khiến cụ minh mẫn, sáng suốt hơn.
Cụ Lan, 90 tuổi, trú tại Mỹ Đình mới đăng ký học thư pháp tại Nhân Mỹ học đường. cụ cho biết, "học chữ" khiến cụ minh mẫn, sáng suốt hơn.

Ghi nhận nỗ lực của Học đường, tại buổi lễ kỷ niệm 10 năm thành lập, Phó trưởng Ban Tôn giáo Chính Phủ - Tiến sỹ Bùi Thanh Hà đã khẳng định: “Qua 10 năm hoạt động và phát triển, Nhân Mỹ học đường đã luôn khẳng định được vai trò và những đóng góp của mình đối với việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Chủ trương của Học đường là thông qua việc bồi dưỡng, đào tạo để góp phần duy trì, bảo lưu và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống dựa trên căn bản cứ liệu ngữ văn Hán Nôm.

Cùng với sự nỗ lực học tập và rèn luyện của học viên, Nhân Mỹ học đường ngày càng phát triển mạnh mẽ và tạo dấu ấn đặc biệt trong đời sống xã hội và chính những hoạt động của Nhân Mỹ học đường đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước...”.

Nội dung phần chữ Hán trọng tâm của khóa học là những phần chữ Hán ứng dụng cần bảo lưu và gìn giữ, như đặc trích kinh điển Nho giáo và Phật giáo; văn phong hành chính phong kiến (chiếu, biểu, sắc, dụ); di văn Hán Nôm tại các di tích (bi, minh, hoành phi, câu đối); các dạng thức văn bản dân gian truyền thống (gia phả, thần phả); các dạng thức văn bản thuộc tín ngưỡng văn hóa truyền thống (khoa nghi, sớ điệp, bài vị)… Phần thư pháp sẽ tập trung vào thực hành các thể thức văn bản nói trên. Ngoài ra, Trung tâm tổ chức giảng các chuyên đề; tổ chức triển lãm “Hàn Mặc”; khảo tả điền dã định kì cho học viên tới các di tích có di văn Hán Nôm; tổ chức một số hoạt động ngoại khóa…

Khởi đầu từ chùa Nhân Mỹ (Thanh Quang Tự), Nhân Mỹ học đường đã mở rộng thêm hai cơ sở đào tạo ở hai ngôi cổ tự là chùa Mễ Trì Thượng và chùa Tứ Kỳ (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Nhân Mỹ học đường đào tạo hệ 4 năm cho người chưa biết chữ Hán, hệ 2 năm cho người đã viết thạo. Nhân Mỹ học đường phối hợp với Trường Đại học Hà Nội tổ chức các lớp thư pháp bút cứng cho sinh viên khoa tiếng Trung Quốc…

Học viên hội tụ ở đây thuộc nhiều tầng lớp, ngành nghề, lứa tuổi… nhưng đều có “mẫu số chung” là niềm yêu say chữ Hán, nghệ thuật thư pháp và nghe giảng đạo. Trong thời buổi nền kinh tế thị trường, không thiếu những trung tâm mọc lên như nấm, mà ở đó, kiến thức trở thành hàng hóa, người học là một thứ khách hàng và mối quan hệ người dạy, người học mang tính hình thức “tiền trao, cháo múc”, thì Nhân Mỹ học đường lặng lẽ suốt 10 năm qua dạy chữ Hán và thi pháp miễn phí.

Vâng, miễn phí. Miễn phí hoàn toàn. Đó là điều tôi và tất cả học viên của Học đường từ ngạc nhiên đến thán phục. Đồng hành, giúp đỡ Trung tâm suốt 10 năm qua là tổ đình chùa Nhân Mỹ và các cơ sở Phật giáo mà Nhân Mỹ học đường đặt làm cơ sở đào tạo giữ ngôi chứng minh, cổ vũ và hoan hỉ chấp thuận bảo trợ hoạt động.

Người khởi tâm sáng lập Nhân Mỹ học đường cách đây 10 năm là Cư sĩ Yên Sơn Lê Trung Kiên (Yên Sơn là bút hiệu). Hiện giảng sư Lê Trung Kiên đang công tác tại Vụ Phật giáo (Ban Tôn giáo Chính phủ). Yêu sự nghiệp văn chương Lê Thánh Tông, Cư sĩ Yên Sơn đã gia nhập nhóm “Nhị thập bát tú - 28 cây bút trẻ” và từ năm 2000 cái tên Lê Trung Kiên đã quen thuộc trong giới nghiên cứu Hán Nôm và giới Thư pháp từ đấy. Sự uyên thâm với Hán văn và thư pháp, khiến tôi và hầu hết học viên đều nghĩ thầy Lê Trung Kiên chắc chắn phải được đào tạo bài bản chuyên ngành Hán Nôm. Nhưng thực tế lại không phải vậy.

Sinh năm 1979 tại mảnh đất Ý Yên (Nam Ðịnh) -  xứ Sơn Nam Thượng – một vùng đất có truyền thống học hành, thầy Lê Trung Kiên chọn Khoa Ngôn ngữ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Dù theo ngành ngôn ngữ, nhưng niềm đam mê Hán văn dường như đã ngấm vào từng huyết mạch. Cơ duyên đến con đường chữ Hán của thầy có căn nguyên từ môi trường sống của gia đình mà từ thời thơ bé thầy đã được dung dưỡng.

Một buổi thực hành của các học viên Nhân Mỹ học đường.
Một buổi thực hành của các học viên Nhân Mỹ học đường.

Là cháu nội của nhà Nho, thầy Kiên đã được tiếp xúc những con chữ viết bằng mực Tàu của ông nội từ thời thơ ấu. Ký ức tuổi thơ của thầy đã gắn bó với chữ Hán Nôm, lúc thì thấy ông nội được vời đi viết chữ trên thượng lương mái nhà cho gia đình làm lễ cất nóc; khi thì nghe lỏm ông nội đàm đạo văn chương cùng bạn văn. Chả biết tự lúc nào, cuốn “Tam tự kinh” đã đến và thầy Kiên hí húi, nguệch ngoạc những nét chữ đầu tiên.

Ngoài việc học và truyền thụ chữ Hán, thầy Lê Trung Kiên quan tâm nhiều hơn những bài học giáo huấn về đạo đức, về tình người, về chuẩn mực đối nhân xử thế, về giá trị văn hóa dân tộc qua kho tàng di sản Hán Nôm. Cho nên, không lạ khi thầy Lê Trung Kiên tự học, tự nghiên cứu Hán Nôm như một sự trở về cội nguồn, về với vốn văn hóa dân tộc. Điều này thầy Lê Trung Kiên đã làm xuất sắc mà không phải cháu con nào của các cụ đồ Nho cũng làm được.

Nhớ lại ba năm đầu khởi nghiệp, một mình trên “cỗ xe độc mã”, thầy Lê Trung Kiên như “con ong chăm chỉ”, vẫn không nản chí, oải lòng, vẫn một mình “cõng chữ”, vẫn đều đặn mỗi tuần dạy hai buổi; vẫn kiên trì chào mời, đôn đáo, “dụ” các “thượng đế” đến học miễn phí. Kể cả khi chỉ có một thầy, một trò thì giảng sư Lê Trung Kiên vẫn thung dung đứng lớp, vẫn nghiêm túc dày công soạn giáo án cho buổi học, vẫn lên lớp nghiêm chỉnh...

Tự tin, tự trọng, kiên nhẫn… chính là những phẩm chất tiềm ẩn trong vị giảng sư trẻ tuổi. Thế nên, từng trải cảnh “nhất sư, nhất đồ”, nhưng thầy Lê Trung Kiên vẫn luôn tự tin khẳng định “Chưa bao giờ tôi lo Nhân Mỹ học đường phải đóng cửa. Bởi vì ngày nào tiếng Việt còn dùng vốn từ Hán Việt, thì chữ Hán Nôm vẫn cần”. Cái sự điềm đạm đến lạ kỳ của thầy đã giúp Nhân Mỹ học đường “vượt qua những chướng duyên”, vững bước trên hành trình hoàn thiện nhân cách và vun bồi trí tuệ. Nhìn cơ ngơi của Nhân Mỹ học đường hôm nay mới thấy sự nhìn xa.

Vẫn biết công lao này thuộc về người khởi xướng, nhưng thầy Lê Trung Kiên rất khiêm tốn để nói rằng Nhân Mỹ học đường không thể tồn tại nếu thiếu những tấm lòng hảo tâm. Đó là sự giúp đỡ quan trọng của Thượng tọa trụ trì chùa Nhân Mỹ Thích Thanh Lương, Đại đức trụ trì chùa Mễ Trì Thượng; sự cộng tác tích cực với tinh thần vô úy của các giảng sư…

Với thuyết “Nhân duyên sinh” giáo lý nhà Phật, thầy Lê Trung Kiên thâu nhận mọi tấm lòng và nhất là sự thu phục nhân tâm để hội tụ cho Học đường một đội ngũ giảng sư, giảng viên tinh tấn, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, mẫu mực về nhân cách, trong sáng về đạo đức và nhiệt tâm với sự nghiệp hoằng truyền các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống.

Cư sĩ Yên Sơn chia sẻ chân thành: “Người ta vẫn nói, kẻ có học thường có tự ái cao và khí khái, khó có thể mời họ làm việc gì nếu họ không muốn. Tuy nhiên, nếu lấy lòng chân thành để thỉnh thì sẽ không từ chối. Các thầy chia sẻ với Nhân Mỹ học đường ở mục đích của lớp học, đó là dạy chữ để truyền tải nét đẹp văn hóa của cha ông. Khi lên lớp, gặp những môn sinh nhiều chữ nghĩa hỏi những câu hỏi khó, bản thân các thầy phải suy nghĩ. Chúng tôi gọi đó là “giáo học tương trưởng”, hiểu nôm na là thầy trò cùng tiến bộ. Ðó cũng là một điều cuốn hút các thầy”.

Lê Thị Bích Hồng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).