Nhạc Ngũ âm trong đời sống của đồng bào Khmer Sóc Trăng

Nhạc Ngũ âm là nét riêng của cộng đồng dân tộc Khmer. Nhạc Ngũ âm truyền thống của người Khmer (Pinn Peat) là một dàn nhạc được hợp thành bởi 5 bộ nhạc cụ làm từ 5 loại chất liệu khác nhau tạo nên 5 âm sắc riêng biệt: bộ đồng, bộ sắt, bộ mộc, bộ hơi và bộ da.

Tại Lễ hội Oóc om bóc - Đua ghe Ngo Sóc Trăng, khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ VI và Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Sóc Trăng lần thứ I năm 2024, diễn ra từ ngày 9 - 15/11/2024, ngoài các hoạt động như: Giải đua ghe Ngo; Lễ cúng trăng; Hội thi Lôiprotip (thả đèn nước), trình diễn ghe Cà Hâu... một điểm nhấn tạo sự quan tâm của du khách là trình diễn nhạc Ngũ âm - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng có quy mô lớn nhất Việt Nam.

Sóc Trăng là 1 trong 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, nằm ở hạ du sông Hậu, cùng với những đặc trưng chung của vùng đất Nam bộ về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, Sóc Trăng có những đặc điểm riêng về văn hóa lễ hội, phong tục tập quán, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, thể thao truyền thống của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Trong đó, nhạc Ngũ âm là nét riêng của cộng đồng dân tộc Khmer. Nhạc Ngũ âm truyền thống của người Khmer (Pinn Peat) là một dàn nhạc được hợp thành bởi 5 bộ nhạc cụ làm từ 5 loại chất liệu khác nhau tạo nên 5 âm sắc riêng biệt: bộ đồng, bộ sắt, bộ mộc, bộ hơi và bộ da.

nhac 8.jpg -3
Giảng viên Dương Chí Dũng hướng dẫn các học viên học nhạc Ngũ âm.

Nhạc Ngũ âm là loại hình âm nhạc hòa tấu mang tính chất nghi lễ, tôn giáo, gắn bó chặt chẽ với các nghi lễ và đời sống sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của Phật giáo Tiểu thừa Theravada trong các ngôi chùa và phum, sóc của người Khmer. Loại hình âm nhạc này được xác định có ảnh hưởng xa xưa từ cung đình và tôn giáo của Ấn Độ và một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, như: Campuchia, Thái Lan...

Sau đó, nhạc Ngũ âm được lưu truyền vào nền văn hóa Khmer Nam bộ ngay từ thời tiền sử và tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, qua ký ức văn hóa và dòng chảy thời gian, bên cạnh những yếu tố ngoại sinh được tiếp thu và duy trì, người Khmer ở Việt Nam nói chung, ở Sóc Trăng nói riêng cũng đã có sự dung hòa, tiếp biến cho phù hợp với tính cách ứng xử vào phong tục, tập quán của dân tộc mình. Một mặt tạo nên tính tương đồng trên nhiều khía cạnh của loại hình nhạc Ngũ âm với đặc điểm âm nhạc của một số quốc gia láng giềng, một số dân tộc anh em trong nước, nhưng mặt khác, cũng luôn khẳng định được những nét văn hóa đặc trưng, riêng biệt của con người và vùng đất này.

nhac 1.jpg -0
Bộ da trong dàn nhạc Ngũ âm của đồng bào Khmer Sóc Trăng.

Theo giảng viên Dương Chí Dũng, Khoa Văn hóa - Du lịch (Trường Cao đẳng cộng đồng Sóc Trăng), nghệ thuật âm nhạc Ngũ âm Khmer là vốn di sản văn hóa quý giá có từ lâu đời của cộng đồng người Khmer Nam bộ. Nghệ thuật âm nhạc Ngũ âm Khmer Nam bộ đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của các nghi lễ phong tục theo vòng đời người; lễ hội truyền thống; lễ nghi phong tục tín ngưỡng tôn giáo; lễ nghi phong tục tín ngưỡng dân gian của người Khmer Nam bộ. Đặc biệt, những giá trị văn hóa âm nhạc dân gian, truyền thống sử dụng trong dàn nhạc Ngũ âm đã được chứng minh thông qua các nghệ nhân của nhiều thế hệ biểu diễn bằng trí tuệ, tài năng sáng tạo góp phần cho sự phát triển văn hóa âm nhạc của dân tộc theo chiều dài lịch sử.

Giảng viên Dương Chí Dũng chia sẻ, về nguồn gốc, dàn nhạc Ngũ âm còn có tên gọi dàn nhạc Pin Peat. Sở dĩ có tên gọi là Pin Peat là do sự hợp nhất giữa đàn Pin, có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn Độ (Bà La Môn giáo) kết hợp với nhạc cụ bản địa của người Khmer. Về biên chế dàn nhạc gồm có: Peat (có 8 hoặc 9 quả cồng), Khse Đieu (đàn dây gẩy), Sro lay (kèn), Skuo Thom (trống lớn), Skuo Chey (trống chiến), Skuo Sompho (trống Sompho). Với hai dàn nhạc như trên, người Khmer có sự sáng tạo kết hợp dàn nhạc Pin và dàn nhạc Peat (kuong peat) lại với nhau thành một dàn nhạc nên có tên gọi là dàn nhạc Pin Peat.

“Dàn nhạc Ngũ âm chính quy được chia ra làm 2 loại: Dàn nhạc trống lớn và dàn nhạc trống nhỏ và vẫn được giữ nguyên vẹn các loại nhạc cụ trong biên chế chính thức của từng loại, không được phép thêm bớt bất cứ loại nhạc cụ nào. Có vài nơi, khi hòa nhạc, người ta có thể bớt nhạc cụ nào đó do thiếu nhạc công diễn tấu, nhưng không thể thiếu nhạc cụ chủ đạo của dàn nhạc Pin Peat, đó là Roneat Ek”, giảng viên Dương Chí Dũng cho biết thêm.

nhac 2.jpg -1
Bộ sắt trong dàn nhạc Ngũ âm của đồng bào Khmer Sóc Trăng.

Nghệ thuật âm nhạc Ngũ âm có vai trò dẫn dắt, liên kết các nghi thức trong buổi lễ, làm tăng thêm tính trang nghiêm cho buổi lễ. Vai trò quan trọng nhất của âm nhạc Ngũ âm được xem là một trong những ngôn ngữ giao tiếp giữa con người với thần linh. Sự gắn bó mật thiết giữa âm nhạc và nghi lễ thể hiện trong mối quan hệ giữa âm nhạc và tâm linh con người, cho nên nó mang yếu tố triết lý của con người và mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng của tộc người.

Trong thực hành nghi lễ, âm nhạc thể hiện chức năng điều phối quy trình hành lễ và là tín hiệu thông báo cho cộng đồng Phật tử. Tiếng nhạc Ngũ âm vang lên tại các ngôi chùa Khmer nhằm để báo hiệu cho Phật tử trong phum sóc biết được đã đến ngày tổ chức các nghi lễ tôn giáo… Với những tín hiệu bằng âm nhạc như vậy, có thể giúp cho cộng đồng Phật tử Khmer phân biệt được các nội dung, hình thức nghi lễ thông qua cách thể hiện bài bản âm nhạc Ngũ âm khác nhau.

Theo giảng viên Dương Chí Dũng, hệ thống bài bản âm nhạc trong các phong tục, lễ nghi của người Khmer ở Sóc Trăng rất đa dạng và phong phú, như: bài bản âm nhạc lễ cưới; bài bản âm nhạc Arak; bài bản âm nhạc Mohori… Âm nhạc phục vụ trong các nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer ở Sóc Trăng do dàn nhạc Pin Peat (dàn nhạc Ngũ âm) đảm trách và đều sử dụng bài bản âm nhạc tôn giáo.

Các nghi lễ tín ngưỡng bao gồm các lễ: Lễ Ban hành giáo lý (Bon Mek Bôchea); Lễ Phật đản (Bon Pisak Bôchea); Lễ xuống trần hay lễ Hạ giới (Bon Asốth Bôchea); Lễ an vị tượng Phật (Bon Puth thia Phisek); Lễ Nhập hạ (Bon Chôl Vôsa); Lễ Xuất hạ (Bon Ching Vôsa); Lễ dâng y cà sa (Bon Kathin - nă tean); Lễ dâng bông (Bon Phka); Lễ Kiết giới (Bon Bonh chôs Sây ma). Những nghi thức lễ trên, đa số người Khmer đều sử dụng âm nhạc Ngũ âm diễn tấu để phục vụ cho từng nghi lễ.

nhac 5.jpg -2
Bộ da trong dàn nhạc Ngũ âm của đồng bào Khmer Sóc Trăng.

Nhạc Ngũ âm của đồng bào Khmer ở Sóc Trăng đã biểu hiện một giá trị văn hóa cao trong kho tàng âm nhạc tôn giáo đã được dân gian hóa, là một loại hình nghệ thuật âm nhạc trình diễn mang tính nhân văn sâu sắc trong đời sống văn hóa tâm linh, tinh thần của người Khmer. Nhạc Ngũ âm gắn bó mật thiết và in dấu sâu đậm trong tâm thức và đời sống sinh hoạt của mỗi người dân Khmer, tạo ra sự kết nối cộng đồng một cách tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng bền chặt; kết nối và neo giữ nhân sinh quan, thế giới quan của mình với những giá trị cội nguồn, gốc rễ và bản sắc tộc người.

Nhạc Ngũ âm là minh chứng mang tính tiêu biểu về mối quan hệ giao lưu và ảnh hưởng văn hóa giữa người Khmer với các quốc gia và dân tộc xung quanh trong suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của mình; đóng góp vào bức tranh văn hóa phong phú, đa dạng và đặc sắc của tộc người Khmer nói chung và văn hóa của cộng đồng người Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng. Nhạc Ngũ âm của người Khmer phản ánh sự tiếp biến và dung hòa với môi trường và tính cách của tộc người so với sự chặt chẽ, chuẩn mực, khuôn mẫu của nhạc Ngũ âm ở Campuchia.

Với giá trị tiêu biểu, Nhạc ngũ âm của đồng bào Khmer Sóc Trăng được Bộ trưởng Bộ VHTT&DL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4602/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019. Và tại Lễ hội Oóc om bóc - Đua ghe ngo Sóc Trăng, khu vực ĐBSCL lần thứ VI và Tuần VHTT&DL Sóc Trăng lần thứ I năm 2024 sắp tới, sẽ có hoạt động tổ chức xác lập Kỷ lục Guiness Việt Nam về trình diễn nhạc Ngũ âm - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của người Khmer tỉnh Sóc Trăng, quy mô lớn nhất Việt Nam.

Văn Đức - Xuân Lương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).