Nhà văn Sương Nguyệt Minh và bến văn nhân

Trước khi viết bài này, tôi đã đọc lại (lần thứ 3) truyện ngắn “Đêm làng Trọng Nhân” của nhà văn Sương Nguyệt Minh để đo lại cảm xúc với tác phẩm này. Và nó lại làm tôi khóc, thực sự là như thế, tôi không hề nói quá lên đâu.

Bởi vì tôi cũng đã từng khóc khi đọc “Chợ tình” của Cao Duy Sơn, “Gióng” của Lê Minh Hà,... dẫu rằng cả ba truyện ngắn trên đều không phải là tác phẩm xuất sắc nhất của các nhà văn. Nhưng có lẽ mỗi câu chuyện đều đã rung lên một tiếng tơ lòng day diết và những thanh âm của nó đã khứa vào tôi một nỗi buồn thật ngọt. Hình như ai đó từng nói nhà văn nào lấy được nước mắt của độc giả, nhà văn đó ắt là một tài văn.

Với Sương Nguyệt Minh, Lê Minh Hà, Cao Duy Sơn thì tài năng, tên tuổi của họ đã được khẳng định trên văn đàn trong vài ba thập niên qua. Dĩ nhiên, một người chập chọe với chữ nghĩa như tôi thì đã học tập ở họ hoặc là rất nhiều hoặc ít nhất một điều gì đó.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh và bến văn nhân -0
Nhà văn Sương Nguyệt Minh.

Quay trở lại với “Đêm làng Trọng Nhân”, Sương Nguyệt Minh đã tái hiện một cảnh huống trớ trêu, xa xót trong hàng ngàn vạn sự trái ngang, thống khổ của những người lính và gia đình họ sau chiến tranh. Tác giả cũng là một người lính trở về từ chiến trường Campuchia, vì lẽ đó, truyện cho tôi cảm giác chân thực, ruột gan.

Rất nhiều lần giữa mơ hồ tưởng tượng, tôi - một người lính tại ngũ - thấy mình là Trường đi về phía làng Trọng Nhân trong cái buổi tối trời ấy. Nhưng tôi đã quên hết mọi điều, quên gương mặt biến dị, ghê ghiếc, quên cả việc phải giả giọng, cả cái kịch bản đã định sẵn,... ngay từ phút giây đầu tiên nhìn thấy người cha gầy mòn, khắc khổ và người vợ xuân sắc héo hắt chờ chồng. Tôi ôm họ bằng nỗi nhớ thương của bao năm đằng đẵng ngóng trông dồn lại.

Tôi không làm được như Trường của Sương Nguyệt Minh, anh đã để chính anh và cha anh, vợ anh thêm một đêm dằn vặt, giằng xé, thấp thỏm, ngờ vực, hi vọng, hẫng hụt, tan nát... Cho đến khi chuyến tàu chuyển bánh, bóng ba người, hai già một trẻ tất tả đuổi theo con tàu, họ ngã dúi, lại đứng dậy chạy, rồi khi bất lực trước sự băng lướt vô tình của con tàu, một người già ngồi thụp xuống ôm mặt khóc thì “Trường cắn chặt môi cho khỏi khóc, ngực dềnh lên, anh với lên giá hành lý. Xốn sang, tần ngần, tay anh nắm chặt quai ba lô...”.

Sau này Sương Nguyệt Minh có những truyện ngắn đầy đặn, xuất sắc hơn, giọng văn cũng khác, phiêu hơn, hoạt hơn, nhất là các truyện trong tập “Dị hương” đoạt giải Hội Nhà văn năm 2010. Nhưng với tôi, bộ 3 tác phẩm: “Đêm làng Trọng Nhân”, “Người ở bến sông Châu”, “Mười ba bến nước” của anh cho tôi nhiều xúc động nhất, tôi thực sự đã từng sống trong thế giới mà những vật của Sương Nguyệt Minh hạnh phúc - buồn đau, yêu thương - sân hận, chia lìa - đoàn tụ,...

*

Một buổi trưa hơn 10 năm trước, các nhà văn đàn anh Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng kéo tôi ra một quán nhỏ trong một con hẻm ở phố Lý Nam Đế để uống rượu. Các văn nhân ở Nhà số 4 vẫn thường mang cách giao đãi phong lưu, hào sảng này dành cho anh em bạn bè chữ nghĩa khi ai đó đến ngôi đền văn chương này. Mấy anh em cuốc bộ, Nguyễn Thế Hùng bảo: “Tí nữa Sương Nguyệt Minh sẽ đến”. Tôi khá háo hức trước thông tin đó, vì lúc ấy, người mới viết như tôi, được ngồi với một nhà văn nổi tiếng như Sương Nguyệt Minh thì thật là vui.

Sương Nguyệt Minh đến, đúng phong thái của người anh từng trải, lịch duyệt, thân tình. Trong cuộc rượu, Sương Nguyệt Minh giữ vai trò chủ xướng, bởi anh có tài nói chuyện, rất duyên. Ngắm anh, một văn nhân nổi tiếng, to cao, điển trai lại nói “hay như đài”, tôi thầm nghĩ “ông nhà văn này hẳn là có nhiều nữ nhân ái mộ”. Mà không chỉ nữ nhân, có thể không ít nam nhân cũng ái mộ anh, vừa có chút gì đó như “gato” với anh.

Cuộc rượu của các anh làm tôi nhớ tới cuộc rượu bên Hồ Tây của Thạch Lam, Nhất Linh, Đinh Hùng và Huyền Kiêu. Một cuộc rượu tưng bừng trong men tình bằng hữu, tình văn nhân, kéo dài từ 6 giờ chiều hôm trước đến 12 giờ trưa hôm sau. Nhưng 4 nhà văn hậu bối chỉ chớp nhoáng buổi trưa với khoảng 2 chai 500 ml thôi, vì đầu chiều họ còn phải làm việc.

Gặp Sương Nguyệt Minh lần đầu nên tôi có chút e ngại, thi thoảng mới góp vài lời vào câu chuyện. Uống một lúc khá lâu, Sương Nguyệt Minh quay sang tôi bảo: “Tao chưa đọc của chú cái truyện nào”. Nghe hết câu của anh, tôi thấy... sượng trân! Bởi thời điểm ấy tôi cũng đã đăng dăm - bảy truyện ngắn, tản văn trên Tạp chí Văn nghệ quân đội rồi. Thực lòng, gặp anh, tôi chỉ muốn anh nói anh đã đọc cái gì đó của tôi, anh chê cũng được. Tôi lại phải tự trấn an mình, rằng Sương Nguyệt Minh đã chuyển sang ban phóng viên - sáng tác, không bình báo, chả mấy khi đến cơ quan nên anh không gặp truyện của tôi cũng là điều dễ hiểu.

*

Sương Nguyệt Minh bước vào con đường văn chương khá muộn so với những người cùng trang lứa, năm 35 tuổi anh mới có truyện ngắn đầu tiên in báo. Số là, cái sự viết văn của anh cũng do hoàn cảnh “xô đẩy”. Hơn 30 năm trước, vợ chồng anh cùng công tác ở Viện Quân y 103, cuộc sống vô cùng khó khăn, nhất là khi cậu con trai đầu lòng ra đời. Thế là phu xướng phụ tùy, anh chị đồng tâm hiệp lực đi buôn, từ buôn trứng vịt lộn từ quê Ninh Bình lên Hà Nội, Hà Đông, đến “đánh quả” áo quần từ Nam ra Bắc. Nhưng sự nghiệp đi buôn của anh chị hụt trước hụt sau cả chì lẫn chài.

Rồi thì nuôi gà với mô hình “chung giường”, tức là trên giường người nằm, dưới gầm gà nằm. Được ba bảy hăm mốt ngày thì không thể chịu đựng nổi cảnh “chung giường” ấy nữa, thế là anh chị quay sang khoan giếng, làm nước sạch để bán cho mọi người trong khu tập thể, rồi cũng chả ăn thua. Và con đường cuối cùng để cải thiện kinh tế gia đình khả dĩ nhất là... viết văn.

Vậy là qua mấy bến chẳng nên công trạng, Sương Nguyệt Minh cập bến văn nhân. Tạp chí Văn nghệ Quân đội là nơi Sương Nguyệt Minh trao gửi đứa con tinh thần đầu tiên - truyện ngắn “Nỗi đau dòng họ”, ngay lập tức gây được chú ý, và cũng ngay lập tức tác giả “dính”... đơn kiện. Những người đại diện cho hai dòng họ Nguyễn, Ninh quê Sương Nguyệt Minh kiện anh. Họ cho rằng anh đã mang chính họ Nguyễn nhà anh và họ Ninh ra bêu riếu, dù truyện ngắn là sản phẩm hư cấu. Văn nghệ quân đội đã phải tận dụng hết mối quan hệ chung, riêng ra giải quyết mới êm thấm. Đúng 3 năm sau, những làn sóng phản đối, “tẩy chay” Nguyễn Ngọc Sơn (tên khai sinh của Sương Nguyệt Minh) tạm lắng xuống, anh mới dám về làng.

Muộn màng và trắc trở ngay từ những ngày đầu với văn chương như thế, nên Sương Nguyệt Minh dành nhiều sự quan tâm cho những người viết trẻ, nhất là những người đang khoác áo lính. Khi còn giữ cương vị biên tập, rồi Trưởng ban văn xuôi của Tạp chí Văn nghệ quân đội anh đã viết thư tay cho không ít cộng tác viên là lính, có người sau này thay thế vị trí của anh ở Nhà số 4.

Năm 2011 - 2013, diễn ra cuộc thi truyện ngắn trên Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam, Sương Nguyệt Minh được mời tăng cường làm biên tập, giám khảo vòng sơ khảo. Khi tiếp nhận vài truyện ngắn của tôi, anh gọi điện bảo dấn lên viết lấy vài cái chất lượng tốt hơn nữa. Anh còn mách nước phải “trốn” công việc, “trốn” vợ con dăm ngày, một tuần để mà viết. Có lẽ vì áp lực sau cuộc gọi của anh, tôi đã không viết được thêm truyện ngắn nào trong cuộc thi ấy nữa. Chung cuộc, tôi chỉ có một truyện được in trong top ten truyện ngắn của năm 2012.

Tôi có những người bạn thời đại học, thủ trưởng cũ và cả đồng nghiệp hiện tại quê rải rác ở các xã thuộc huyện Yên Mô, Ninh Bình, quê hương của Sương Nguyệt Minh. Đã nhiều lần tôi thả bộ bên sông Trinh Nữ, Hoàng Long, ngắm cánh đồng trơ gốc rạ, trâu bò nhởn nhơ, cò vạc bay trong dải sương chiều, những bóng núi nhập nhòa viền lên chân trời những đường gãy khúc.

Trong tiếng rì rào của sông, tôi nghe bạn kể về những tên đất, tên làng: Thổ Hoàng, Vân Thượng, Vân Hạ, Trinh Nữ (1, 2, 3, 4),... với những huyền tích kì thú, liêu trai. Phần nào tôi đã lý giải được, tại sao những con sông này, những vùng đất này hiện lên vừa gần gũi vừa kì lạ, vừa hiển lộ vừa ngầm ẩn sâu xa, vừa ngồn ngộn hiện thực vừa lãng mạn, kì ảo trong những sáng tác của Sương Nguyệt Minh.

Có lần, tôi đã nhắn cho Sương Nguyệt Minh: “Em mới về Yên Mô, qua mấy xóm Trinh Nữ và dòng Trinh Nữ, lúc ấy không thể không nhớ “Mười ba bến nước”, “Đi qua đồng chiều”, “Người ở bến sông Châu”,... của Sương Nguyệt Minh và “Sau mưa”, “Cha, mẹ và con”, “Những người đàn bà ở bến sông”... của Vũ Minh Nguyệt, bác ạ!”.

Đi trên đồng đất ấy, tôi lại nhớ trên đất nước này có bao nhiêu con sông và những con sông đã sinh ra biết bao văn nhân, thi sĩ. Tất cả rồi đất sẽ ôm mang, sông sẽ chuyên chở xuôi dòng, nhưng với những tài văn thì con chữ sẽ ở lại. Đọc văn của Sương Nguyệt Minh tôi cũng cứ nghĩ rằng, những con chữ của anh đã là một dòng sông, sáng lấp lánh, êm đềm chảy nhiều năm qua trong lòng bạn đọc.

Nguyễn Phú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).