Nhà văn Bích Ngân: Tri kỷ mùa thu hóa phép nhiệm màu

Tình cờ kệ sách nhà tôi có vài cuốn sách của chị Bích Ngân: “Thế giới xô lệch” (tiểu thuyết), “Trăng mật ở đảo” (22 truyện ngắn hài), “Đường đến cây cô đơn” (tập truyện ngắn). Và giờ đây, tôi được đọc “Nghiêng về phía nỗi đau” (thơ). Thật thú vị, cùng một tác giả với những tác phẩm với các thể loại khác nhau, phong phú và ấn tượng.

Tập thơ với cách trình bày và sự chăm chút về hình thức, với 57 tấm ảnh mà tác giả chụp trên hành trình dọc dài của chị, chứng tỏ tác giả nâng niu, yêu quý và trân trọng đứa con tinh thần của mình đến dường nào. Phần nội dung cũng không kém phần lãng mạn, chỉn chu, bao quát và sâu rộng.

Tập thơ mở đầu bằng lời tự sự “Người tình thủy chung”, nơi tác giả trải lòng mình: “Thơ luôn là một người tình thủy chung. Người tình không nhìn người tình bằng con mắt tháng năm mà cảm nhận bằng nhịp đập của một trái tim không già cỗi theo năm tháng. Thơ còn là bóng đêm mà ánh sáng luôn hiện diện. Và tập thơ này được viết bằng một trái tim trụi trần hạnh phúc”.

b904df48-4ed6-43a7-88e3-13f3d91113e8.jpg -0
Nhà văn Bích Ngân.

Câu chữ của chị như ánh sáng ẩn hiện trong đêm tối, thấm đẫm tình yêu thủy chung với thơ ca, nơi mỗi nhịp đập của trái tim vượt thời gian vẫn ngân vang mãi, mang theo hạnh phúc chân thật đến lay động lòng người. Mỗi bài thơ là một câu chuyện, một tình huống riêng biệt, nhưng tất cả đều liên kết với nhau bởi một chủ đề chung về tình yêu, nỗi đau, và hy vọng. Từng câu chữ, từng hình ảnh đều vừa mềm mại vừa gai góc mà rất tinh tế. Những tình huống, đề tài và sự uyển chuyển đã tạo nên một tác phẩm không thể không cuốn hút, cộng với cách trình bày trang nhã, thanh lịch và xinh đẹp. Tập thơ còn được chia ra thành ba phần chính rất có chủ ý: “Vết sẹo long lanh”, “Một nhân gian bé tẹo - Một nhân gian không cùng”, “Chúng ta chỉ là kẻ tạm trú”.

Trong thơ Trịnh Bích Ngân, tình yêu của người đàn bà hiện lên mạnh mẽ và đầy sức sống, không chỉ là những cảm xúc bình thường mà còn là một giai điệu của khát khao cháy bỏng. Người phụ nữ trong thơ chị mang trong mình nỗi niềm sâu sắc, sự mãnh liệt của yêu đương và những tiết lộ lãng mạn. Tình yêu ấy vượt ra ngoài những giới hạn thường tình, không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn hòa quyện với thiên nhiên, với đại ngàn, với dòng sông, và cả vũ trụ bao la. Bài thơ “Anh mang cho em cả đại ngàn” là một ví dụ, nơi tình yêu trở thành một sức mạnh kết nối con người với thiên nhiên. Người đàn bà trong thơ không chỉ yêu, mà còn đắm mình trong những gì thiên nhiên mang lại.

Tiếng nói của phụ nữ trong thơ Trịnh Bích Ngân đầy dũng cảm và chân thành. Chị không che giấu cảm xúc, cũng không e dè trước những nỗi đau hay niềm vui. Thơ của chị toát lên sự chân thật, thẳng thắn, với tình yêu mạnh mẽ và gan góc. Người phụ nữ trong thơ dám yêu, dám sống, và dám đối mặt với những thử thách trong tình yêu cũng như cuộc đời. Từ những dòng thơ về khát vọng yêu đương đến những suy tư về nỗi đau và sự mất mát, tiếng nói phụ nữ trong thơ Bích Ngân là tiếng nói của sự dâng hiến, của trái tim không ngừng khát khao yêu thương và đồng cảm.

Thơ tình Bích Ngân cũng như giai điệu khát khao Ghazal, một thể thơ truyền thống bắt nguồn từ Ba Tư, nổi bật bởi vẻ đẹp trữ tình và những biểu đạt của nỗi niềm mong nhớ, những giai điệu say đắm và vần điệu tinh tế của Ghazal dệt nên những câu chuyện về tình yêu và khao khát mãnh liệt. “Có những ngày thu em thuộc về anh/ Như chồi của cây như nỗi buồn mở mắt/ Những vì sao xa lóng lánh nụ cười/ Nhịp Ô Thước cũng cong oằn ân ái/ Có những ngày thu úa vàng ký ức/ Em phơi phông sưởi ấm đìu hiu/ Có những ngày thu tường cao rêu phủ/ Em trèo qua bằng thang bắc lên trời”. Tình yêu của người đàn bà trong thơ chị không chỉ là câu chuyện của riêng họ, mà còn là sự phản ánh của những khát vọng lớn lao, lãng mạn và đầy sức sống giữa thiên nhiên, giữa cuộc đời.

Tôi rất thích bài thơ “Dẫu nồng nàn” của chị: “Thắm tươi lên, bình minh vùn vụt đến/ Rồi nhạt phai vương vấn những chân trời/ Những cánh hoa vắt kiệt mình để thắm/ Tàn lụi dần trong quên lãng gió trăng;/ Dẫu nồng nàn cũng đến lúc dửng dưng/ Đất cỗi cằn bởi nhọc nhằn sinh nở/ Trời thêm xanh bởi thật nhiều mây trắng/ Ta còn nhau bởi xao xuyến hao gầy”. Bài thơ hay từng chữ từng lời, của một người đàn bà trải nghiệm nhiều cung bậc về thời gian của cuộc sống. Bích Ngân có cái nhìn sâu sắc về sự sinh tồn và tái sinh, một chu kỳ mà nhiều nền văn hóa, đặc biệt là văn hóa phương Đông, thường mô tả trong triết lý về sự sống và cái chết.

t.jpg -1
Tập thơ “nghiêng về phía nỗi đau” của nhà văn Bích Ngân.

Thơ tình của Trịnh Bích Ngân mang vẻ đẹp trữ tình và giàu hình ảnh gợi cảm, gợi mở một cái nhìn sâu sắc về tình yêu qua lăng kính đa dạng của các nền văn hóa châu Á. Như haiku Nhật Bản với sự tinh giản, thơ của Bích Ngân dùng những hình ảnh thiên nhiên tinh tế để truyền tải cảm xúc, ví dụ như "hoa tàn" hay "mây trắng". Tựa như Đường thi với những tiết lộ lãng mạn, thơ Bích Ngân kết hợp sâu sắc giữa tình yêu và nỗi cô đơn. Hơn nữa, sự hòa quyện giữa tình yêu và thiên nhiên trong thơ Tamil Sangam cũng hiện diện trong tác phẩm của chị, tạo nên một tổng thể phong phú và độc đáo, nơi tình yêu không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn hòa vào nhịp điệu của vũ trụ và thiên nhiên.

Những tiếng nói phụ nữ trong văn học Đông Á trong rất nhiều phương diện là những tiếng nói nổi bật của nền văn hóa. Họ là những người lên tiếng cho những người bị bỏ quên và không được đại diện, những phụ nữ cho chúng ta thấy cuộc sống và nền văn hóa từ một góc nhìn độc đáo, và là những người có thể dạy chúng ta về tình yêu, nỗi đau, và sự suy ngẫm lặng lẽ. “Em, người đàn bà/ hạnh phúc nhất trần gian/ được chạm vào đại ngàn của anh/ lịm đi trong nụ hôn tướm máu/ và hồi sinh trong bóng tối nhiệm màu; /Em, người đàn bà rất đàn bà/ đỏng đảnh nhất trần gian/ tham lam nhất trần gian/ muốn ghì siết cả ảo ảnh mây trời/ với trập trùng non cao núi biếc/ được neo giữ bằng sinh mệnh trái tim”.

Thơ có thể dịu dàng, nhẹ nhàng nhưng cũng có thể mạnh mẽ, đầy sức nặng, từ trải nghiệm cá nhân, vượt qua nghịch cảnh, cho đến truyền cảm hứng cho người khác. “Một cõi riêng của chị của em/ những người đàn bà được nỗi buồn ký thác/ và lặng thầm ôm ấp bóng đêm/ vẫn dịu dàng trước bình minh gõ cửa; /Một cõi riêng của những kiếp đàn bà/ biết nhón nhén đem trái tim góp lửa/ và nắng mưa nhặt nhạnh cả tro tàn/ cho buốt giá vẫn nồng nàn hơi ấm”.

Sáng tạo, văn học và nghệ thuật lại quan trọng trong cuộc chiến giành quyền sở hữu văn hóa và cá nhân. Ở đây, chúng ta biến những hình thức biểu đạt này thành nơi trút bỏ những cảm giác bị từ chối, đồng thời cùng nhau cảm thông hoặc nâng đỡ nhau qua những câu chuyện về hạnh phúc và sự tự nhận thức. Đây cũng chính là nơi thơ ca hòa hợp trong cuộc đấu tranh tìm kiếm bản sắc của người phụ nữ châu Á.

Một số bài thơ của Trịnh Bích Ngân làm tôi liên tưởng đến những khía cạnh này, và đây là một ví dụ vô cùng cụ thể, “Người đàn bà tẩy rửa bếp lúc 2 giờ sáng": “Vết bẩn không thể tẩy rửa bằng hóa chất/ những vết bẩn ô uế cả những thứ/ tưởng không thể nào ô uế/ những vết bẩn làm người đàn bà/ không dỗ được giấc; /Vết bẩn trườn vào giường ngủ/ vết bẩn trèo lên chốn thờ phụng linh thiêng/ những vết bẩn xổng lưng lừng lững nghênh ngang/ như nhà không chủ như phố không người”. Người phụ nữ không chỉ đối diện với sự lạc lõng trong tình yêu mà còn trong cả cuộc sống, nơi họ không thể tìm thấy chỗ đứng thực sự của mình, và điều này phản ánh cuộc đấu tranh chung của nhiều phụ nữ. “Chợt nhận ra/ mình chỉ là chút men/ không đủ làm anh say”.

Tính nữ trong thơ Bích Ngân là cách những đặc điểm, cảm xúc, và trải nghiệm của phụ nữ được thể hiện qua thơ. Điều này có thể bao gồm việc khám phá các khía cạnh như sự nhạy cảm, tình yêu, sự chăm sóc, nỗi đau, hay những khó khăn mà phụ nữ trải qua trong xã hội. Tựa đề “Nghiêng về phía nỗi đau” của chị chứa đựng sự tinh tế và sâu sắc trong cách tiếp cận cảm xúc con người, đặc biệt là nỗi đau, có thể được hiểu không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là nỗi đau của cả một tập thể, một cộng đồng.

Trịnh Bích Ngân dường như nhấn mạnh vào việc đối diện với những khía cạnh đau thương để từ đó tìm thấy sự giải thoát, sự thức tỉnh hoặc sự thanh thản. Tựa đề này vừa gợi cảm xúc vừa mang tính triết lý, mời gọi người đọc cùng tác giả bước vào hành trình tìm kiếm ý nghĩa trong nỗi đau, không phải để bị nó nhấn chìm mà để học cách vượt qua và trưởng thành từ đó. 

Võ Thị Như Mai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).