Nhà thơ Vũ Quần Phương: Những tản mạn cuối năm

Căn nhà nhỏ của nhà thơ Vũ Quần Phương ở tầng cao của một khu chung cư, ông mang về đó cả một không gian sống hoài niệm của mình, những bộ bàn ghế khảm trai, những sập gụ, tủ chè, kỷ vật... dù ông bảo nó không phù hợp lắm với không gian hiện đại. Nhưng ông là vậy, con người luôn tình cảm, ân tình với quá khứ. Và câu chuyện vào những ngày cuối năm cũng không tránh khỏi những hoài nhớ, ngậm ngùi...

1. Tôi tự hỏi, con người đã đi qua bao biến thiên của thời cuộc, bao nỗi đau, mất mát của gia đình ấy, vì sao vẫn luôn giữ được tình yêu, tha thiết với cuộc sống, với người?... Câu chuyện của ông bắt đầu từ những ký ức xa xưa. Nhưng với một người giàu tình cảm như nhà thơ Vũ Quần Phương, thì ký ức mang nhiều ý nghĩa đối với hiện tại của ông, nó giúp ông đi qua những biến động của đời sống và những nỗi cô đơn của kiếp người.

img_9832-(1).jpg -0
Nhà thơ Vũ Quần Phương.

“Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng quê ở Nam Định. Năm tôi 6 tuổi, bố qua đời. Tôi về quê ở với bà gần 4 năm bởi lúc đó kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), Pháp chiếm Hà Nội. Quê nội tôi vẫn là vùng tự do”. Mấy năm ở quê, bà đã đem nhuộm thâm bằng lá bàng và bùn non những tấm trướng và câu đối họ đến viếng ông nội và bố, (mất cùng thời điểm) để may quần áo cho ông. Đứa bé mới lên 6, 7 tuổi có lúc còn phải “dỗ dành” bà, bà quá đau khổ vì một lúc chịu hai nỗi đau, mất chồng và con trai. Còn ông, “trong lòng luôn luôn mơ hồ nỗi thiếu hụt, nét mặt luôn luôn ngơ ngác một thoáng buồn tội nghiệp”.

Nhưng chính quê hương với những ký ức buồn ấy lại bao bọc, chở che ông trong những năm tháng ấu thơ cô độc. Ông chia sẻ: “Lòng tôi vẫn âm thầm, quấn quýt với quê hương - dù tôi chỉ ở đó có ngót bốn năm, các em tôi, mẹ tôi thì chỉ hơn một năm, ngắn ngủi như người tản cư ở trọ - chính là vì tình cảm của những người dân quê tôi. Tôi đã lấy tên quê, Quần Phương (Quần Phương Trung, nay là Hải Hậu, Nam Định), làm tên bút cho mình”.

Ông nhớ những cái Tết ở cùng bà, nghèo lắm. Sáng mồng một Tết, năm nào cũng có một người đàn bà mang giỏ quả bằng sơn mài qua chúc Tết hai bà cháu. Họ bày đĩa cam lên bàn, còn bà nội đi lấy một đồng tiền gói trong tờ giấy đỏ mừng tuổi cho họ. Xong, bà mõ xếp cam vào túi rồi đi sang nhà khác. Tôi thắc mắc hỏi bà, sao cam đẹp thế mà bà không nhận. “Đây là cam của mõ làng, họ đi chúc Tết từng nhà”. Ông cũng nhớ những phiên chợ Tết, hào hứng được đi cắt tóc để có đầu mới đón Tết. Hôm đó ông phải ngồi chờ ông “thượng ngôi” (thợ cắt tóc) rất lâu để có cái đầu mới, Tết đầu ai cũng trắng hếu. 3 năm ở với bà, âm thanh đi vào ký ức của ông là tiếng guốc gõ trên đường làng vào sáng sớm mồng 1 Tết, chỉ duy nhất sáng mồng 1 Tết mà thôi, vì quanh năm, người dân làng ông đi chân đất. Mồng 1, họ mới diện guốc đi chúc Tết quanh làng.

2. Ông theo mẹ, trên một chuyến thuyền xuôi về Hà Nội. Mẹ ông là người Hà Nội, dạy học và biết tiếng Pháp, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, chồng mất sớm, 3 đứa con thơ, bà đã phải bỏ nghề giáo ra chợ Canh (làng Phương Canh) buôn bán. Đó là những cái Tết trọ học mong ngóng để được về với mẹ một tuần, dù hai anh em chỉ cách quê 12km nhưng với một đứa trẻ ngày đó chặng đường quá xa xôi. Những ngày Tết gia đình nghèo, nên cỗ bàn cũng quạnh hiu.

Ông nhớ đêm 30, hai anh em xoay trần dọn vườn, sân cho mẹ (4 mẹ con ở nhờ trong nhà thờ họ Nguyễn ở Phương Canh). Sân rộng nên rêu lên xanh, có lần mẹ ông ngã vì rêu trơn. Đêm giao thừa năm đó, hai anh em vẫn còn cố cạo rêu, sáng ra nhìn rêu nham nhở, sân không còn đẹp nhưng ông mừng thầm vì mẹ sẽ không bị ngã vì trơn nữa. Về Tết bao giờ hai anh em cũng tranh thủ dọn dẹp nhà cửa giúp mẹ. Có lần, em trai ông (đã mất) mang lọ hoa ra bờ ao rửa, vô tình làm vỡ. Em sợ vì làm mất đi một tài sản và sợ bị anh mắng, nhưng lần đó, ông đã không mắng mà chỉ lo lắng em bị mảnh vỡ cứa vào tay. Sau này, ông cứ bị ám ảnh mãi bởi ánh mắt nhìn hoảng hốt, sợ hãi của em trai.

img-5029.jpg -0
Nhà thơ Vũ Quần Phương thuở nhỏ (thứ 3 từ phải qua) cùng mẹ (mặc áo đen) và người thân trong gia đình.

Ngày Tết, ông nhớ cả tiếng bập bùng của giấy bóng mờ màu hồng dán khắp các cửa sổ của ngôi nhà. Các cửa sổ trống, không có cửa gỗ, thường ngày mẹ lấy nong nia che tạm, còn ngày Tết, hai anh em về dán giấy lên cho đỡ tối. Đêm gió lùa. Sau này, chuyển ra Hà Nội ở cùng mẹ, ông vẫn nhớ tiếng bập bùng đó.

Rồi những cái Tết thời bao cấp, trong chiến tranh, nghèo mà đầm ấm. “Ngày nào gia đình tôi cũng có một niềm vui gì đó, khi thì mua được cân gạo, lúc thì mua được gói mỳ chính, túi đồ khô theo tem phiếu. Mẹ tôi thường thay cả nhà xếp hàng mua đồ, có khi cả tuần mới mua đủ thực phẩm cho ngày Tết. Giờ nghĩ lại, sao ngày đó Tết đạm bạc mà vui”. Ông nói, đến bây giờ, khi đã ở tuổi ngoài 80, ông vẫn nhớ cảm giác của niềm vui ấy. Có cái Tết, mẹ ông ra tận ga Hàng Cỏ mua được con gà về nhốt trong lồng ở khu lắp ghép Bách Khoa. Gà sổ lồng, cả nhà tá hỏa đi tìm, còn ông thì lo, nếu mất gà, Tết đó cả nhà sẽ buồn vì không có tiền để mua con gà khác.

Sau này, khi con cái thành danh, ông đã đón những cái Tết xa nhà trên đất Mỹ. Tết với ông bao giờ cũng quây quần quanh bàn thờ, thắp hương cho tổ tiên. Tết của người sống và người đã mất. Nhưng ở Mỹ không có bàn thờ, lại lệch múi giờ. Ông quyết định cúng giao thừa theo giờ Việt Nam vì muốn sống cùng lúc với quê hương mình.

Nhiều năm nay, ông không còn khỏe để đi những chuyến đi xa, Tết với ông là những cái Tết xa con. Có lẽ, đây không chỉ là cảnh ngộ của riêng ông mà của nhiều gia đình Việt Nam. Cũng may bây giờ các phương tiện liên lạc hiện đại, ông có thể kết nối với con cháu từ bên kia bán cầu qua hình ảnh... Ông quý giá những khoảnh khắc ngày Tết khi bàn thờ lên hương và ông cảm giác như tổ tiên ông bà, cha mẹ trở về quây quần trong không gian ấm cúng ấy. Rồi khi dọn bàn thờ, tiễn Tết, ông lại thẫn thờ mấy ngày. Ông vẫn giữ thói quen xông nhà, trước giao thừa, ông đi một vòng quanh khu, ngắm nhìn phố xá và trở về sau khoảnh khắc giao thừa. Ông cùng bà uống một ly rượu chào năm mới và trò chuyện với con từ bên kia bán cầu. Cuộc sống, xã hội đang thay đổi từng ngày, ông tự nhận mình là người “lạc hậu”, “chậm tiến”. Rồi cũng phải thích ứng với sự thay đổi thôi, ông thở dài.

3. Ông thuộc lớp nhà thơ chống Mỹ nhưng không giống như Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm… Thành tựu nổi bật trong thơ ông không phải là những bài thơ về chiến tranh. “Cái làm nên tài năng của Vũ Quần Phương chính là chất suy tưởng và những tình cảm nồng thắm, bình dị được thể hiện trong những bài thơ trau chuốt về ngôn từ, hài hòa về âm điệu và hình ảnh được gạn lọc nhiều khi hóa thành biểu tượng. Thơ ông lúc trẻ đã lắng đằm, heo hút, về sau càng mênh mang, thăm thẳm và giàu triết luận” (Nhà văn Thiên Sơn).

Nhiều đêm ông suy nghĩ, sốt ruột không ngủ được. Vì những dự định vẫn còn dang dở. Ông nói ông đang khép lại hành trình thơ của mình, bởi bây giờ thơ ông không còn cái “rào rạt”, hồn nhiên của tuổi trẻ. Ông làm thơ ít hơn, tìm thơ ở những chỗ tưởng như không có thơ. Như ông viết thơ về con chó, về xe buýt, cái thang máy... những thứ giản dị quanh mình, mà ông quan sát và suy ngẫm. Ở mảng phê bình, ông đã ấp ủ 30 năm nay cho bộ “Tuyển tập thơ thế kỷ XX”, hơn 100 tác giả, trải dài từ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà đến phong trào Thơ mới, thơ trong hai cuộc kháng chiến và từ Đổi mới đến trước những năm 2000. Một tổng tập lớn với những góc nhìn đa chiều, trung thực với mong muốn trả lại những giá trị đích thực của văn chương. Ông là người cầu toàn, tỉ mỉ, nên dù dự định và miệt mài viết, tích lũy hơn 40 năm qua nhưng ông vẫn chưa xuất bản. Đó là những trăn trở để ông khép lại hành trình cuộc đời thơ và phê bình thơ của mình.

Giờ, Tết với ông là những khoảng lặng của cuộc đời, của tháng năm dâu bể. Người ta thường ít nhớ đến niềm vui hơn nỗi buồn. Bạn bè đã dần rời xa, lớp nhà thơ chống Mỹ cũng xa vắng gần hết rồi... Ông tự hỏi “Mình sẽ còn bao nhiêu cái Tết?”. Vì thế trong ông là những nỗi “ngùi ngùi” (chữ của nhà thơ Huy Cận khi đánh giá về thơ ông). Nhưng dù còn bao nhiêu cái Tết thì ông vẫn “coi hôm nay như là ngày cuối cùng để sống”, để làm tiếp những dự định còn dang dở.

Việt Hà (ghi)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).