Nhà thơ Thanh Thảo với nghệ danh “Vua trường ca”

Với 17 trường ca và hàng chục tập thơ, bút ký, tiểu luận văn học đã in trong nửa thế kỷ qua, nhà thơ Thanh Thảo được bạn bè văn chương đặt cho cái nghệ danh là ông "Vua trường ca" của thi ca đương đại Việt Nam. Nhưng có một điều khá hay, Thanh Thảo vẫn là một nhà thơ lớn của những bài thơ nhỏ rất đặc sắc, hiện đại và đáng chú ý. Ông đã được trao nhiều giải thưởng văn học giá trị của Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Nhà nước về VHNT đợt 1 năm 2001.

Có lẽ khó có tác giả trường ca đương đại nào sánh được với nhà thơ Thanh Thảo về mặt bề dày sáng tác cũng như chất lượng của trường ca - một thể loại được coi "Loài thơ quý hiếm" cần đưa vào "sách đỏ thi ca". Cứ dăm năm miệt mài trong lặng lẽ, thể nào Thanh Thảo cũng lại có thêm một trường ca mới cho đất nước, cho nhân dân cần lao của mình. Cho đến nay, ông đã xuất bản tới 17 trường ca.

Với Thanh Thảo, có lẽ thơ hay dễ như thò tay vào cái túi "thi sĩ mộng mỵ" nơi ông để rút ra dăm tứ thơ tài hoa mà thường là độc đáo. Độc đáo là bởi nét nghĩ, nét suy tưởng, nét cấu trúc ngôn ngữ thi ca của riêng ông đã quật vác lên những nét thơ mới như những người nông dân tay trắng, chân đất ở Quảng Ngãi quê ông đã vác đá xây nên dải Trường Lũy tự thuở nào.

nhà tho thanh-thao-anh-taquoc.jpg -0
Nhà thơ Thanh Thảo.

Không hiểu vì sao, tôi chợt liên tưởng, cái nguồn mạch trường ca dồi dào và sâu lắng của Thanh Thảo có thể cũng đã bắt nguồn từ mạch sống trường tồn của dãy Trường Lũy nơi quê hương ông vì "Địa linh thường sinh nhân kiệt". Và, nếu không sinh ra ở miền đất nghèo khó mà quật khởi ấy, nếu không được nuôi dưỡng bởi nhân dân hào hùng và đau thương ấy thì làm sao Thanh Thảo có thể viết được những trường ca làm nên tên tuổi sáng chói của ông như: "Những người đi tới biển", "Trẻ con ở Sơn Mỹ", "Những ngọn sóng mặt trời", "Khối vuông ru-bích", "Đêm trên cát", "Metro"…

Quê hương ơi làm sao tôi sống thiếu người!

Và bằng trường ca "Chân đất" mới đây, Thanh Thảo đã hướng chúng ta vào một hệ-quy-chiếu thi ngữ mới với cấu trúc của các chương như các "Chân…Thơ" thật độc đáo găm vào trí giác người đọc, từ Chân tre tới Chân ruộng, từ Chân mưa đến Chân núi, từ Chân cò, Chân tháp, Chân mây tới Chân sóng, Chân lũy. Rồi, từ những đường nét kiến trúc khá đặc biệt ấy, ông dựng nên ngôi nhà trường ca "Chân đất", theo giọng điệu riêng mà Thanh Thảo dành cho tập thơ này: Uyên thâm mà phóng túng, dân dã mà hiện đại, tối giản mà sâu sắc, bình dị mà đa dạng…

Nếu ở ''Chân tre'', ông thầm gọi đất đai máu thịt: "Quê hương ơi làm sao tôi sống thiếu Người/ làm sao tôi thành một bóng cây/ nho nhỏ/ nếu trước nhà tôi, ngoài ngõ/ không rậm rì rậm rịt một bóng tre", thì ở ''Chân mưa'' Thanh Thảo cảm nhận đau đáu về mẹ: "những dấu chân mưa bờ tre phấp phỏng/ bong bóng phập phồng/ tôi ngồi nhìn mẹ tôi xay lúa/ tôi không biết và tôi không nghĩ/ đời mình như chiếc cối xay tre".

Nếu ở ''Chân tháp'', ông ngược về những thế kỷ trước của văn hóa Chàm, để chiêm nghiệm cái đẹp: "tôi kính dâng lên tổ tiên mình/ chiếc bát mẻ nằm lặng bên chân tháp/ cái bát người con trai Việt/ lăn lóc tìm cặp mông người con gái Chàm/ như tìm nơi trú ngụ/ lăn lóc tìm mênh mang vó ngựa/ lăn lóc tìm ấm êm bếp lửa/ lăn lóc tìm đức tin" thì ở ''Chân sóng'', những câu thơ đau đớn của Thanh Thảo như những vết bầm dập trên cơ thể  đất nước làm chúng ta xúc động: "lặng im như đá mồ côi/ họ dạy anh tình yêu không lời/ không thể thiếu Hoàng Sa, Trường Sa/ không thể sống thiếu biển/ anh yêu biển mà anh đứng trên bờ/ anh yêu nước mà không biết bơi/ làm sao anh hiểu/ có những người lính đảo/ trần lưng trước mưa đạn quân thù".

Theo tôi, người tài trong làng thơ Việt hôm nay đã hiếm và người hiền trong làng thơ Việt hôm nay cũng hiếm hoi hơn. Với Thanh Thảo, tôi cho rằng ông có đủ cả hai phẩm chất trên, và bởi thế con người thơ trong ông dường như không chịu ngủ quên trên những giá trị thẩm mỹ cũ, nên cứ dăm năm, ông lại "tái xuất giang hồ" với thể loại trường ca tưởng như đang trở thành một "loài thơ quý hiếm". 

Đầu tháng 10/2023 mới đây, Hội nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất diễn ra tưng bừng tại Hải Phòng với sự có mặt, động viên của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng với hơn 300 nhà văn tuổi trên 70 đã làm nên một thời kỳ chói sáng của văn học Việt Nam qua nửa thể kỷ trận mạc. Trong "Đêm thơ Mùa thu" chào mừng thành công của hội nghị, nhà thơ Thanh Thảo ở độ tuổi 78 "xưa nay hiếm", đi lại rất khó khăn vì bệnh tật nhưng vẫn lên đọc thơ. Tôi phải dìu ông từng bước một, từ cuối hội trường lên sân khấu. Đêm ấy, ông đọc bài thơ ca ngợi tình hữu nghị với Việt Nam của thượng nghị sĩ John McCain (cựu phi công Mỹ bị bắn rơi ở hồ Trúc Bạch, Hà Nội năm 1967), người sau này có công rất lớn trong việc thúc đẩy xóa bỏ toàn bộ lệnh cấm vận của Mỹ nhằm vào Việt Nam, và tiến tới bình thường hóa quan hệ hai bên để mới đây, trở thành "Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình".

Tôi chợt nhớ tới bài thơ của Thanh Thảo cũng viết về những cựu phi công hai nước sau chiến tranh. Trong bài thơ này, nhà thơ kể chuyện về anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy, người từng bắn rơi 7 máy bay các loại của Mỹ. Thanh Thảo nhấn mạnh cái chi tiết, sau chiến tranh, các cựu binh phi công hai phía ngày xưa từng đối mặt sinh tử trên bầu trời, nay gặp nhau lại trở thành bạn bè tâm tình và ông Bảy nói với họ: "Nếu bay nữa có khi tôi chết/ hoặc thêm mấy bạn phi công Mỹ không còn trên cõi đời/ cuộc chiến tranh kỳ quặc mà buồn quá đi thôi/ vì chúng ta sinh ra để là bạn tâm giao/ mà phải đi qua cửa những cựu thù". Câu chuyện giản dị, có hậu và thật cảm động về tình con người sau chiến tranh.

Sáng tạo để không ngủ quên trên thành tựu cũ

Thơ của Thanh Thảo thường có cách cuốn hút riêng bởi cách kể chuyện thơ thật giản dị, gần gũi với cuộc đời mà vẫn thấm đẫm một chất thơ mang thi pháp của riêng ông. Ở các tập thơ sau này, dường như Thanh Thảo lắng mình xuống sau những tìm tòi, cách tân ở 17 tập thơ và trường ca trước đây, để tìm một cách diễn - đạt- thơ thật tình cảm, một cách nói- thơ thật dân dã mang hơi thở mộc mạc, chân chất, khó nhọc và thân thuộc của đời sống.

Trong bài thơ "Thầy tôi", Thanh Thảo kể chuyện về người cha của mình sống một đời vất vả, gian lao "Khi nằm xuống gói tròn ba tấc đất/ khỏi cần điếu văn vớ vẩn lôi thôi/ bấy nhiêu đó đổi mười năm tù ngục/ bao nhiêu năm cơ cực giữa đời/ bấy nhiêu đó kèm theo bao uất ức/ gió thoảng mây bay lặng lẽ mỉm cười". Và nhà thơ cầu mong một điều duy nhất, nếu được đầu thai kiếp khác vẫn xin được làm con của cha mẹ mình dù cháo rau khổ cực như dưới mái nhà xưa. Cái đọng lại trong cách kể chuyện thơ này là tình người, tình cha con, tình bè bạn và tình yêu thương.

Cách kể chuyện khá độc đáo như viết nhật ký thơ hàng ngày của Thanh Thảo, thêm một lần cho ta thấy những ngẫm ngợi, trăn trở, suy tư trước đời sống xã hội, trước con người và đất nước luôn là mạch chảy nhân văn giàu sức lao động sáng tạo nghệ thuật của thi ca ông. Với bài thơ "Những mùi thơm bình dị", Thanh Thảo kể chuyện về ngày đi học ông thèm mùi cơm chín, rồi ngày ở chiến khu luôn thèm mùi sắn nướng và đêm ở một vùng quê, mùi ổi đào dẫn ông đi về phía mùi hương tóc của một người con gái để ông thao thức mãi: "có mùi thơm giữa anh và em/ còn nghe được cách nhau nghìn cây số/ không nước hoa không xạ hương không rõ/ vì sao thơm khi mùi ấy yêu thương".

Trên con đường tìm kiếm cái mới, nhà thơ Thanh Thảo không bao giờ là người ngoài cuộc. Trong khi anh đang trăn trở thể nghiệm thì không ít người chỉ muốn anh quay trở lại với những giá trị đã làm nên tên tuổi của anh thời chiến tranh. Nhưng Thanh Thảo không chịu ngủ quên trên thành tựu của những giá trị cũ. Bằng tài năng thơ và một nỗ lực không chịu bất lực của mình, mấy chục năm qua, Thanh Thảo vỡ vạc chính anh ở mảng đời sống tâm trạng của một người lính đã thấm đẫm nỗi đau trận mạc và mảng đời sống thơ đích thực trước đây anh chưa có thời gian khai phá đến. Tôi cho rằng trong con- người- thơ của Thanh Thảo, một nội lực sáng tạo lớn luôn thôi thúc anh, luôn cày xới anh, luôn vắt kiệt anh ở những bến bờ mới.

Trong Đêm thơ Mùa thu ở Hải Phòng đáng nhớ ấy, khi tôi dìu Thanh Thảo lên đọc thơ, tôi đã viết tặng anh bài thơ sau: "Lúc tôi dìu anh lên đọc thơ/ anh như một ngọn gió bị thương mệt mỏi/ chầm chậm say chầm chậm bay/ trong đám mây ngôn từ của thi ca/ bên vai tôi là ngọn gió từ nửa thế kỷ trước/ từng thổi qua cánh rừng cháy tàn cháy rụi vì bom napan/ những người chết trẻ/ họ đồng hành cùng ngọn gió lên chót đỉnh trời cao rồi hóa thành mây/ trong đêm thơ mùa thu ở Hải Phòng/ khi Thanh Thảo lên đọc thơ/ tôi chợt gặp những đám mây ngày trước/ đang chầm chậm cùng anh/ ngọn gió bị thương suốt đời còn thao thức/ trong cánh rừng mất ngủ của thi ca". Và tôi nghĩ, nhà thơ Thanh Thảo trong hành trình thơ suốt nửa thế kỷ qua vẫn luôn bền bỉ, luôn trăn trở với nhân dân, với đất nước như thế.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).