Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo: “Người đàn bà mơ mộng”

Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo kể: “Hồi còn nhỏ tôi cũng mơ mộng lắm”. Cái mơ mộng mà Phạm Thị Phương Thảo nói tới là chuyện từ hồi học cấp 2 cô đã làm thơ, đó là những bài thơ đầu tiên mà cô học trò nhỏ viết để tham gia phong trào làm báo tường của trường và của Liên Đội Thiếu niên Tiền phong.

Phạm Thị Phương Thảo có giỏi thơ văn từ bé, chắc cũng bởi ngay từ hồi ấy cô đã được ảnh hưởng từ người cha yêu văn chương. Cô được đọc rất nhiều tác phẩm văn học kinh điển trong nước và thế giới. Cô bảo: “Thế giới tuổi thơ và thế giới văn học của tôi chính là tủ sách của cha tôi. Cha tôi là nhà giáo dục, có rất nhiều sách, ông luôn khích lệ tôi đọc nhưng cũng hay nhắc nhở tôi đừng vì ham đọc sách quá mà quên “nhiệm vụ” học cho tốt ở trên lớp”.

Cha cô, ông Phạm Hồng Phúc, quê ở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định nhưng xung phong lên Lào Cai công tác từ ngày Lào Cai chưa giải phóng. Ông công tác nhiều năm trong ngành giáo dục (ông nguyên là Trưởng ty Giáo dục tỉnh Lào Cai). Ở trên mảnh đất địa đầu Tổ quốc này ông đã gặp mẹ cô, một nữ y tá Trung đoàn 44 lên Lào Cai phục vụ kháng chiến (sau này bà là bác sĩ, Phó giám đốc Bệnh viện Lào Cai và Phó giám đốc Sở Y tế Hoàng Liên Sơn).

1.jpg -0
Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo.

Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo kể rằng: “Bố mẹ tôi có 4 cô con gái, đều sinh trưởng trên mảnh đất Lào Cai gian khó, nhưng bù lại mấy chị em tôi đều kính trọng, thương yêu bố mẹ và luôn quấn quýt với nhau. Tôi là con thứ 3 chứ chưa phải là con út nhưng cũng được bố chiều lắm và luôn động viên, khen ngợi về thành tích học tập”.

Ngày ấy, ngôi nhà tranh của bố mẹ và mấy chị em cô ở thị xã Lào Cai heo hút thường xuyên có khách đến chơi vào những ngày chủ nhật, phần vì cha cô là cấp trên và quan trọng hơn là cha cô rất yêu văn học. Trong tâm trí của nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo còn nhớ như in những người khách là các thầy cô giáo thường đến chơi nhà mình. Họ đều là thầy giáo và đều đam mê văn chương. Cô bảo: “Từ nhỏ, tôi may mắn đã được đọc những “ông thầy” ấy. Sau này, họ đều trở thành những nhà văn nổi tiếng, như các thầy giáo: Ma Văn Kháng; Pờ Sảo Mìn; Bùi Nguyên Khiết (nhà văn, nhà báo, liệt sĩ, AHLLVT trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tháng 2 năm 1979) và đặc biệt là cha tôi hay nhắc tới một thầy giáo giỏi người Mông là Mã A Lềnh”.

.Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo đã nhận được 9 Giải thưởng về VHNT của Trung ương và địa phương. Đáng chú ý là Giải Quán quân Slam năm 2018 do Sứ quán Pháp và Học viện Pháp ngữ đồng tổ chức.

Ham đọc sách, thích làm thơ từ nhỏ, nhưng lớn lên, năm 1977, thì Phạm Thị Phương Thảo lại học Trường Đại học Kinh tế - Tài chính. Cô ra trường năm 1981 và lập nghiệp ở Hà Nội. Ban đầu là ở Viện Y học cổ truyền Việt Nam, rồi sau được mời lên làm công tác quản lý Tài chính và Dự án ở Bộ Y tế. Năm 2009, Chính phủ thành lập Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia thuộc Bộ Y tế, thì “nhà quản lý tài chính” thạc sĩ Phạm Thị Phương Thảo được giao nhiệm vụ là Viện phó của Viện; dĩ nhiên là cô phụ trách công tác Kế hoạch - Tài chính - Hậu cần của Viện.

Cả quãng thời gian bận rộn với những con số và sổ sách kế hoạch, tài chính kế toán, những tưởng cô học trò giỏi văn ngày nào đã “quên” chuyện thơ phú. Vậy mà không, những lúc được rảnh rỗi là Phạm Phương Thảo lại làm thơ, những lần đi công tác địa phương là Phạm Thị Phương Thảo tranh thủ ghi chép điều mắt thấy tai nghe bằng thơ, bằng bút ký hoặc miệt mài viết tản văn. Cô cứ “âm thầm nuôi” thơ văn bằng cách như vậy rồi cho đến một ngày.

Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo kể: “Có lần tôi bị ngã tại Đà Lạt do vấp vào tà váy của chính mình. Cú ngã ấy tôi gọi là “cú ngã Đà Lạt”. Khi thấy tôi ngã sóng soài ngay trên con đường nhỏ, kề nơi triền đồi thì có hai cụ già là người dân Đà Lạt đang đi dạo, họ vội chạy tới nâng tôi dậy và bôi dầu, hỏi han, chăm sóc rất ân cần. Đó là đêm Lễ hội Festival hoa Đà Lạt năm 2013.Thế là tôi thấy rất có cảm tình với con người và mảnh đất cao nguyên Lâm Viên xinh đẹp này”. Sau cú ngã Đà Lạt ấy, Phạm Thị Phương Thảo quyết định không vào tham dự đêm lễ hội hoa theo giấy mời nữa, cô tập tễnh vừa đi, vừa kéo vali lang thang quanh khắp phố đêm. Ánh sáng phố hoa huyền ảo như nhập vào tâm hồn của cô. Những ngôn từ về Đà Lạt như ào ạt kéo về.

Thế là từ một bài thơ về Đà Lạt được cô viết từ 10 năm trước trong cảm xúc dâng trào đã được Phạm Thị Phương Thảo nhanh chóng hoàn thành. Mà lại là một sự hoàn thành thăng hoa còn hơn cả dự định. Trường ca “Người bước ra từ bức tranh Đà Lạt” sau này được bắt đầu và ra đời như thế: “Đà Lạt choàng lên giấc mơ/ Em duỗi dài trong mùa sương trắng/ Đầu gối lên trầm mặc/ Cao vút một chiều Langbian..”.

Phạm Thị Phương Thảo thường viết khá nhanh khi cảm xúc ùa vào tâm hồn trước cảm nhận nhân thế. Những bài thơ đầu tiên mà cô đăng báo là từ những năm chín mươi. Thơ Phạm Thị Phương Thảo đã được đăng ban đầu trên Báo Lào Cai, niềm vui ấy đã khích lệ cô viết và khích lệ cô gửi đi đăng các báo ở Hà Nội như các báo: Văn nghệ; Văn nghệ Quân đội; Văn nghệ Công an; Phụ nữ Thủ đô và Người Hà Nội.

Cứ đều đều làm thơ, viết tản văn, bút ký và cứ đều đều in thơ đã hình thành nên một giọng thơ Phạm Thị Phương Thảo đầy nữ tính. Cô đã in 12 tập thơ, 1 tập thơ tình song ngữ Anh Việt, 3 tập trường ca cùng những tập ký và cả thơ cho thiếu nhi nữa.

Đặc biệt là mảng trường ca, Phạm Phương Thảo yêu thích viết trường ca và viết cũng khá ấn tượng. Trường ca “Tiếng vọng nơi cửa sông”. Tiếp theo là “Sự sống và lòng biết ơn” - Trường ca viết về đại dịch COVID-19 nóng bỏng, đã có nhiều nhà văn, nhà phê bình quan tâm. Đọc trường ca của cô, cảm giác có khúc như đến bất chợt mà lại sâu lắng như đã được cô ấp ủ và “ẩn” rất lâu trong tâm hồn thơ của cô từ bao giờ. Cô cho biết: “Tháng 10 này, nhân kỷ niệm 70 năm giải phóng Thủ đô, tôi sẽ ra mắt trường ca thứ tư. Còn bản thảo trường ca thứ năm tôi đã viết về biên cương, biển đảo từ nhiều năm trước vẫn đang tiếp tục hoàn chỉnh”.

4.jpg -1
Tác phẩm của nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo.

Với đa dạng lối viết, thơ Phạm Thị Phương Thảo thường nghiêng về vẻ đẹp núi rừng cùng những tình người tình đất của rừng núi. Đọc những bài thơ của Phạm Thị Phương Thảo tôi có cảm tưởng như ở cô, ký ức những năm tuổi thơ sống nơi rừng núi Tây Bắc đã ăn sâu vào tâm hồn. “Tỏa hương vào giấc ngủ/ Chỉ có bóng đêm nhìn thấy/ Khi những cánh hoa rung ngân/ Thứ ngôn ngữ câm/ Bình minh hửng sáng”. Đúng là người tinh tế lắm mới nhận ra “Những bông hoa mở đêm” như thế.

Và cũng là người nhạy cảm lắm thì mới có được “cái nhìn” dự báo “Bình minh hửng sáng” từ những bông hoa nở thầm nở kín đáo và mở ra đêm đen khuya khoắt. Hay như như những câu thơ: “Mắt núi chìm sâu, trập trùng đèo dốc/ Giăng mắc Cao Bằng/ Anh uống em say” (Mắt Cao Bằng). Hay: “Nồng nàn thơm hương ngô/ Chảy từ xa xưa, trập trùng nương rẫy” (Rượu Bắc Hà). Hoặc: “Người đàn bà Chăm hằng đêm ngồi vẽ/ Trong dịu dàng ánh sáng hoan ca/ Tháp Chăm hiện về bên Chiêm Thành/ Những chiếc lu gốm ngân vang/ Chị đang vẽ giấc mơ dân tộc mình” (Người vẽ Tháp Chăm).

Phạm Thị Phương Thảo đúng là phụ nữ có khác nên cô hay viết về hoa? Tập thơ “Những cánh hoa mở đêm” mà cô tặng tôi chỉ riêng cái tên đã hàm chứa điều đó. Tập thơ có tất cả 90 bài thì lướt qua đã thấy có tới hơn một nửa bài viết về hoa.

Và Tây Bắc, nơi sinh thành và nuôi “mơ mộng” đã cho Phạm Thị Phương Thảo với những cảm nhận về dòng sông Cái, dòng sông Mẹ. Ngay từ khi còn ấu thơ, Phạm Thị Phương Thảo đã được “tắm mình” trên sông thơ - sông Hồng, đã từng có những giây phút đứng bên bờ sông lắng nghe cồn cào dòng nước đỏ thắm phù sa chảy qua thị xã Lào Cai. Và trong cô đã ấp ủ một cảm thức sông Hồng.

Cô cũng đã tâm sự: “Những tháng năm sống và lớn lên ở miền biên cương Tổ quốc, ở “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” đã khắc sâu vào tâm trí tôi. Tôi đã luôn tâm niệm phải viết gì đó cho thật xứng đáng với mảnh đất ngàn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội”.

Cũng phải đợi chừng hai tháng nữa thì tôi mới được cầm trên tay Trường ca “Giọt giọt đêm Hà Nội” của cô. Nhưng ngay từ bây giờ tôi đã thấy háo hức, như cô đã viết: “Văng vẳng tiếng nước reo/ Và sớm nay, cây tự mình thay lá/ Sóng vẫn ngàn năm khắc khoải tự ru” (Tây Hồ).

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).