Nhà thơ Nguyễn Thị Mai, người nhân hậu và trách nhiệm

Cách đây hơn 20 năm, lần đầu gặp Nguyễn Thị Mai ở Hội Nhà văn Việt Nam, tôi ngạc nhiên, đâu ra có người đẹp thế. Thế rồi ít năm sau, Nguyễn Thị Mai lại cùng sinh hoạt trong Ban Nhà văn nữ với tôi. Gần gũi nhau tôi nhận ra, Mai rất dịu dàng, chăm chỉ, giản dị và chân thành.

Công việc của Ban muốn nhiều thì làm mãi cũng không hết, muốn rảnh thì chỉ gặp nhau cho vui, cũng chẳng ai chê được, vì Ban Nhà văn nữ chỉ là cánh tay nối dài của Ban Chấp hành, không có lương thưởng gì nên chả ai nỡ chê. Nhưng chị em chúng tôi thì lại toàn những người ham hoạt động.

Hai người tích cực nhất trong Ban (giai đoạn năm 2007-2015) là Thành Đức Trinh Bảo và Nguyễn Thị Mai. Họ đều còn trẻ, nhiệt tình và đầy trách nhiệm. Ban đầu, tôi nghĩ họ đều nhẹ gánh gia đình, được chồng con đỡ đần nhiều việc nên có thời gian để tận tâm “vác tù và hàng tổng”. Thân hơn mới biết, các bạn ấy đều đảm việc nhà, thậm chí còn là trụ cột của gia đình, mọi việc lớn nhỏ đều đến tay. Riêng Nguyễn Thị Mai thì cho đến bây giờ vẫn vất vả như hồi ấy, dù đã ở tuổi bà ngoại.

1.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Thị Mai.

Tôi và Trinh Bảo thì đã thôi công tác tại Ban Nhà văn nữ. Còn Mai thì vừa dừng làm bên Hội Nhà văn Việt Nam lại làm ngay Trưởng ban Nhà văn nữ của Hội Nhà văn Hà Nội. Chị đi lại như con thoi suốt ngày bằng cái xe Honda 82 đã dùng mấy chục năm, vừa công việc Hội, vừa công việc nhà lại vừa đưa đón cháu đi học hàng ngày. Hình như truyền thống đảm đang tần tảo của người phụ nữ ngấm vào người khiến chị quen rồi, nhưng cái chính vẫn vì Nguyễn Thị Mai quá tháo vát và đầy trách nhiệm, nên nhìn thấy việc gì mà chậm chạp hoặc khó khăn là chị lao vào làm lấy mới yên tâm.

Sinh năm 1955, quê cha ở Phú Thọ nhưng Nguyễn Thị Mai chào đời, và lớn lên tại quê mẹ ở Gia Lâm, Hà Nội. Từ khi 8 tuổi, Mai đã đọc nhiều "Truyện Kiều", truyện "Lục Vân Tiên" và các truyện Nôm khuyết danh cho bà ngoại nghe mỗi đêm nên Mai thuộc và thích thơ văn từ đấy. Rồi ước mơ vào Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội đã thực hiện được.

Tốt nghiệp ra trường Nguyễn Thị Mai được phân công lên dạy tại Trường Sư phạm 10+3 Hòa Bình. 4 năm sau, chị thi đỗ và học Cao học Ngữ văn (chương trình Thạc sĩ bây giờ) rồi về dạy ở Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây. Từ năm 1993 Mai chuyển ngành sang làm công tác Hội Phụ nữ, từ Hội Phụ nữ tỉnh Hà Tây (cũ) đến Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam rồi giảng dạy ở Học viện Phụ nữ Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Dù ở cương vị nào cái chất sư phạm (chuẩn mực, chân chất…) vẫn thấm đẫm trong con người chị.

Miệng cười tươi tắn, đôi mắt lóng lánh, gương mặt khả ái, Nguyễn Thị Mai lại là người văn thơ mơ mộng, tính tình xởi lởi thì sẽ có những “cái đuôi”, có những “phi công” hoặc “vệ tinh” đeo bám. Và thế là tất yếu gặp những chuyện thị phi, gắp lửa bỏ tay người. Nhưng Mai sống vị tha, nhân hậu. Không để ý làm gì.

Hồi làm công tác Hội Phụ nữ hoặc giảng dạy ở Học viện Phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Thị Mai là cộng tác viên đắc lực của Báo Phụ nữ Việt Nam. Chị có thơ in báo từ năm 1976 với bài thơ “Tâm sự cô giáo trẻ” được nhiều sinh viên sư phạm yêu thích. Thơ Nguyễn Thị Mai phong phú về đề tài, giàu hình ảnh gợi cảm và nhiều cảm xúc. Mai không lấy câu chữ làm duyên mà lại rất duyên, chính vì sự chân thành giản dị của tâm hồn con người sống vị tha nhân hậu đã thấm vào chữ nghĩa.

Bài thơ viết trước ngày mẹ mất

Nhà quê còn chút mẹ già
Đêm thâu thức giấc canh gà ho khan
Mái nghèo một bóng ba gian
Mảnh sân nắng dội mưa chan tháng ngày

Vườn quê còn rặng xoan gầy
Lá rơi xót đất hoa bay đắng trời
Bù nhìn ra ruộng đứng chơi
Nón mê sụp mặt, áo tơi tay què

Xa nhà thoáng gặp bờ tre
Thoáng mùi khói rạ đã nghe nhớ làng
Đã lòng nơm nớp xốn xang
Thảng hương chuối chín… gió đang lớn dần

Trong mình xẻ dạ, phân thân
Bởi chưng còn mẹ ở phần nhà quê.

Hay là bài: "Nhà không có bố", nằm trong chùm thơ đoạt giải Nhất Cuộc thi sáng tác văn học cho trẻ em do Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban Thiếu niên Nhi đồng Việt Nam tổ chức, 1992.

Nhà không có bố buồn sao
Cái đinh cũng thiếu, con dao thì cùn
Bơm xe chẳng hiểu cái jun
Rát tay bật lửa, đá cùn, xăng khô
Không có bố, không thì giờ
Bữa ăn sớm muộn, chẳng chờ, chẳng mâm
Ngày đông gió bấc mưa dầm
Đậy che mái dột, âm thầm mẹ con
Chẳng vui tiếng điếu rít giòn
Bia không mua uống, em còn bán chai
Nước đun sôi để nguội hoài
Nhà không có bố, biết ai pha trà

Cho dù bãi mật phù sa
Mà không bên lở chẳng là dòng sông.

Và bài: "Qua hàng trầu nhớ mẹ" là bài tôi xúc động nhất, nhớ mẹ nhất mỗi năm vào Ngày của mẹ:

Gian hàng trầu vỏ quen một thuở
Cau tươi, vỏ thắm, lá thơm cay
Đi chợ con bớt dăm đồng vặt
Mua để mẹ ăn mỗi thường ngày

Quết trầu đỏ thắm làn môi mẹ
Sau bữa cơm đèn, trải chiếu hoa
Mẹ ngồi thong thả bên hè mát
Hàng xóm sang chơi ấm cửa nhà

Nhưng rồi hình bóng về xa khuất
Mẹ chẳng còn ăn những miếng trầu
Chiếc cơi trống vắng hơi đồng lạnh
Con đặt tay vào ngón buốt đau…

Mẹ ơi!
Thơm cay một miếng trầu xưa
Mà con phải bớt tiền mua vì nghèo
Bây giờ đã hết gieo neo
Lại không còn mẹ mà chiều. Khổ không!

Từ ngày đưa mẹ ra đồng
Qua hàng trầu vỏ con không dám nhìn.

Thơ Nguyễn Thị Mai cứ chân thật, chất phác như thế nên nhiều người thuộc. Chị làm thơ cho bản thân, như một lời tâm tình với chính mình, không coi thơ là nấc thang để tiến bước trong sự nghiệp. Với bạn bè, Nguyễn Thị Mai luôn hết lòng. Công tác của Ban Nhà văn nữ có hai việc vất vả nhất là tổ chức các chuyến đi thực tế và thăm hỏi các nữ nhà văn tuổi cao sức yếu hoặc việc hiếu. Mai làm bền bỉ từ nhiều năm nay. Đi thực tế sáng tác là công việc tổ chức khá khó khăn phức tạp.

Mai luôn là người tìm địa điểm, kết nối với địa phương, xin hỗ trợ kinh phí của bạn bè hoặc nhờ địa phương giúp đỡ… (việc này bản thân tôi rất ngại). Có kinh phí rồi lại lập chương trình hoạt động, lo ăn lo ở, lo xe đưa đón… Ôi chao! từ A đến Z, sao cho chuyến đi an toàn mọi mặt, đảm bảo từ khởi sự đến hoàn thành và phải đạt kết quả tốt. Với các nhà văn còn trẻ thì đơn giản, không phải chăm sóc và lo lắng nhiều nhưng với các nhà văn nữ cao tuổi thì có nhiều vấn đề trong mỗi chuyến đi như vậy. Nào giấy mời rồi vẫn phải nhắc khỏi quên, nào nhắc mang thuốc men, nhắc giờ ra xe, nhắc đồ đạc lên xuống xe kẻo quên và thường xuyên hỏi han việc ngủ nghê ăn uống… Hoặc việc phân phòng ở ghép cho chị em, dù chỉ một đêm cũng phải lựa tính lựa người sao cho phù hợp để chị em thoải mái. Mà có thoải mái mới vui vẻ, mới có hứng sáng tác. Hồi tôi còn công tác cùng chị, đôi khi cũng nản. Nhưng Nguyễn Thị Mai thì không, lúc nào chị cũng tươi cười, hài hước để tạo không khí vui vẻ cho chuyến đi và tận tâm, trách nhiệm đến cùng.

Cho đến nay Nguyễn Thị Mai đã tổ chức được hàng chục chuyến đi thực tế ở mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam, từ biên giới đến hải đảo… Hồi 2020, dịch COVID-19 bùng phát, người dân hoang mang và lo sợ, náo loạn đi mua khẩu trang và mỳ tôm dự trữ. Dịp 8/3, lãnh đạo Hội đề nghị dừng không tổ chức gặp mặt các nhà văn nữ như mọi năm, Nguyễn Thị Mai đã đeo khẩu trang đi đến nhà 20 nhà văn nữ trên 80 tuổi tặng hoa và quà động viên các chị.

Bây giờ, Nguyễn Thị Mai phụ trách hai Ban của Hội Nhà văn Hà Nội: Ban Công tác nhà văn nữ và Ban Công tác hội viên… Nguyễn Thị Mai quả là “người vác tù và hàng tổng” nhân hậu và trách nhiệm.

Hà Nội, tháng 9/ 2024

Nhà thơ Nguyễn Thị Mai đã có 16 tập thơ và 4 tập văn xuôi gồm truyện vui và phê bình tiểu luận. Mai cũng có duyên với nhiều giải thưởng danh giá, tiêu biểu như: Giải B tập thơ “Thời hoa gạo cháy” năm 1995, giải A tập thơ “Nón trắng sang đò” năm 1997 đều của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; giải Nhất (chùm thơ 2 bài: “Nhà không có bố” và “Giờ văn”) sáng tác văn học cho trẻ em - do Hội Nhà văn Việt Nam và Ủy ban Chăm sóc thiếu niên, nhi đồng tổ chức năm 1992; giải Nhì cuộc thi thơ chủ đề về gia đình do Báo Văn nghệ và Báo Phụ nữ Việt Nam tổ chức năm 1994 (không có giải Nhất) với bài “Nói với con chồng”; Giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi thơ lục bát chủ đề “Ngàn năm thương nhớ” do Báo Văn nghệ và 4 báo Trung ương đồng tổ chức nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Giải Nhì - Giải thưởng Cuộc vận động sáng tác Văn học về đề tài Biên giới - Hải đảo của Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Mang quê ra đảo” năm 2020...

Trần Thị Trường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).