Nhà thơ Mai Liễu: Một quả còn mê ngủ

Tôi thật tình mỗi lần đọc thơ Mai Liễu là cứ thấy anh mủm mỉm miệng, trề môi gãi tóc cười với tôi bằng cái chất rủ rỉ rù rì rất khó chịu: nhanh không ra nhanh, chậm không ra chậm. Anh cũng không có cái vẻ gì là loại người có thói cà kê dê ngỗng, cũng không phải loại người quá bê trễ, chậm chạp, nhưng lại cứ rậm rà rậm rì, chính vì thế nó lại giúp tôi nhận ra một Mai Liễu khác...

Tôi xin trích nguyên văn ba câu cuối bài thơ "Tung còn" của Mai Liễu mà tôi nhớ để vẽ nét đầu tiên đoản khúc chân dung anh:

Hai cặp mắt tình tứ trông nhau
quả còn trên tay mê ngủ
chẳng nhớ mình đeo tua đỏ tua xanh

(1994)

Chơi với nhau xấp xỉ hai mươi năm nay, lên đỉnh đá Đồng Văn Mèo Vạc, về thành Tuyên, lên Điện Biên Phủ, Mường Lay, rồi lại xuôi Hà Nội, lại ngược Tam Đảo, lại quay lên Thái, về Tuyên, uống rượu nóng thấu đêm đông Đồng Văn - Mèo Vạc cùng các chàng trai, các cô gái Mông, và đặc biệt với các cô gái Tày làm ngân hàng, làm cô giáo nơi đèo heo hút gió đá núi sương mù, trăng lu, tình nặng.

Rồi chúng tôi nhập vòng xoè với các cô gái Thái Điện Biên, cùng nhau thưởng thức thứ rượu ngô xứ núi đá Bắc Hà, rượu thóc Sán Lùng Lào Cai, rượu ngang mật lợn, rượu chưng ấu tẩu Tuyên Quang. Quả tình chúng tôi hợp nhau ở cái tính tình dễ dãi xuề xòa, bạn Tày, bạn Mường, bạn Dáy, bạn Dao, bạn Ba Na, Gia Rai từ Tây Nguyên ra, cụng li vài ba lượt là thấy thân thiết ngay, bởi cái cách mời chào chân chất ở đâu cũng giống nhau, hồ hởi, rộn ràng không từ chối được.

Đi với Mai Liễu chẳng thú vị gì khi ở đâu anh ta cũng rủ rỉ rù rì, cũng cứ như cái "quả còn trên tay mê ngủ", đi chậm, ăn chậm, nói chậm, rậm rà rậm rờ, nhưng thỉnh thoảng tôi mải "nâng li hạ li" với các bạn mới ở một tiệc gặp gỡ nào đó, chỉ nhoáng một cái, Mai Liễu biến mất tăm!

Tôi buồn nên mới nghĩ quẩn rằng, thôi, tóm lại là con người ta không ai chậm hết phần của ai, và cũng chẳng ai nhanh được hết phần của người khác, đành ngậm bồ hòn làm ngọt vậy! Người ta làm thơ thế này mà dám đòi hỏi người ta quan tâm đến mình?

Quả tim treo trong vồng ngực em
không gió không ma
lúc lắc
đu vào chao đảo đời anh!

(1994)

Tôi thật tình mỗi lần đọc thơ Mai Liễu là cứ thấy anh mủm mỉm miệng, trề môi gãi tóc cười với tôi bằng cái chất rủ rỉ rù rì rất khó chịu: nhanh không ra nhanh, chậm không ra chậm. Anh cũng không có cái vẻ gì là loại người có thói cà kê dê ngỗng, cũng không phải loại người quá bê trễ, chậm chạp, nhưng lại cứ rậm rà rậm rì, chính vì thế nó lại giúp tôi nhận ra một Mai Liễu khác.

Chỉ tính ở trong thơ thôi đấy nhé, thì phải công nhận Mai Liễu khá có duyên, bằng lối diễn đạt cảm xúc giản dị, trong sáng, không một chút ồn ào. Chứ cũng Mai Liễu ngoài đời thì luôn luôn khiến tôi cứ chập chờn nhận ra một Mai Liễu ngoài thơ, lúc mờ, lúc tỏ. Thực ra mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một vài chân dung khác, ngoài thơ.

Nhà thơ Mai Liễu.
Nhà thơ Mai Liễu.

Ví dụ như những nhà thơ làm sếp to cần phải "nâng tầm" văn hóa văn minh của mình lên ngang với vai trò của mình, qua những cuộc diễn thuyết lại thỉnh thoảng lộ ra cái chất nông dân nơi bắt nguồn gốc gác mà ta thường gọi là "nhà quê tỉnh lẻ". Mai Liễu nhiều năm làm kha khá to, vẫn điếu cày rít xoe xóe, rít xong rồi đôi mắt lơ mơ không có màn diễn cao siêu nào mà vẫn (càng) thấy dễ chịu cái tác phong "hòa mình vào quần chúng" của anh cán bộ.

Ví dụ thêm, có nhà thơ đi đến đâu làm gì cũng muốn cho thiên hạ phải biết ngay anh ta là nhà thơ, nhà văn, hỏi để làm gì? Rằng… cho oai!!! Mai Liễu không hề cục mịch nhưng không quá điệu đàng "ra vẻ ta đây".

Mai Liễu có chừng có mực, nhưng cũng có lúc đỏ mặt tía tai, không có năng khiếu nói nên ta thấy anh một vừa hai phải thôi, chứ thực ra anh cũng "không phải dạng vừa". Anh nói tiếng Kinh veo véo với anh em bạn bè Kinh. Nói tiếng Tày veo véo với các bạn Tày.

Làm thơ bằng tiếng Kinh là chính nhưng cái hồn Tày thì đậm đặc. Tôi thường có dịp có duyên hay chơi thân với mấy ông nhà văn nhà thơ người Tày: Cao Duy Sơn, Y Phương, Mai Liễu. Tôi thấy hình như cả ba ông này đều đặc sệt văn hóa Tày mà đều cả sành sỏi văn hóa Việt, không món nào thua món nào. Nhưng khi viết bằng cả hai thứ tiếng thì văn hóa Tày chiếm lĩnh ưu thế hơn rõ rệt hơn.

Nếu mai em về Chiêm Hoá
cho ta gửi nỗi nhớ cùng
tháng giêng mưa tơ rét lộc
em về vừa kịp mùa măng.

Sông Gâm đôi bờ trắng cát
đá ngồi dưới bến trông nhau
Non Thần hình như trẻ lại
xanh lên ngút ngát một màu

Phố đông cứ mải tìm nhau
cô gái Dao nào cũng đẹp
vòng bạc rung rinh cổ tay
ngù hoa mơn mởn ngực đầy

Con gái bản Tày duyên quá
sắc chàm như cũng pha hương
chỉ riêng nụ cười môi mọng
mùa Xuân e cũng lạc đường

Nếu mai em về Chiêm Hoá
đầu Xuân đi hội "lùng tùng"
quả còn chạm vai thì nhặt
ngày lành duyên tốt mừng nhau.

 Tôi rất thích bài thơ này. Bài thơ này không xuất sắc, không mới mẻ, không hề cố ý làm ra để làm gì, nó tự nhiên đến, nó tự nhiên được viết ra, cũng không hối hả, không quá nồng nhiệt; nó không thờ ơ, vô tư, nhưng cũng không quá nặng nề, không thi vị hoá, đọc lên ta thấy chân dung tác giả, tấm lòng tác giả thật dịu dàng, thật hiền từ, không hề luỵ vào kỹ thuật, không hề có ý làm thơ về miền núi hay mặc cảm người miền núi làm thơ, không chơi trò ngô ngọng, cũng không khoe lạ kể lạ. Bài thơ bình thường như chính chàng trai bình thường, giản dị, mỗi khi mùa xuân về (ta) nhớ một vùng quê.

Con gái bản Tày xinh quá
sắc chàm như cũng pha hương
chỉ riêng nụ cười môi mọng
mùa Xuân e cũng lạc đường.

Đấy, Mai Liễu là như thế. Bài thơ bình thường thôi, vậy mà cũng nhoáng một cái làm ta sững sờ bởi một câu, một chữ tưởng là vu vơ: "mùa Xuân e cũng lạc đường". Cái chất thi sĩ của thơ Mai Liễu là cái duyên cái nợ cái tình, đến bao giờ mới nguôi ngoai?

Bao giờ tôi có niềm vui
chắc Thơ lại bỏ mặc tôi một mình...

Tất nhiên, tất nhiên và tất nhiên rồi anh Mai Liễu ạ. Tôi cũng mong nó nhanh nhanh diễn ra để tôi xem Mai Liễu thế nào.

Dù sao thì bây giờ tôi cũng chỉ kể (một chút) về thơ Mai Liễu, về người thơ Mai Liễu nhìn, bài thơ tôi nhớ. Không hiểu sao nó nhớ cũng tự nhiên nhớ chứ tôi đâu có chủ ý thuộc làm gì! Nói chung là thơ Mai Liễu thì tôi thích, chứ còn... Mai Liễu thật, một Mai Liễu chơi với bạn thì khó kể lắm thay! Khó bởi vì chỉ "nhoáng một cái" là anh ta biến mất tăm mất dạng, còn biết đâu mà lần!

Ấy là nói chuyện ở dưới thành phố thôi, chứ nếu về làng uống rượu thì cái cách chơi nửa phần "cởi mở" nửa phần hoang dã của anh mới "lộ thiên" nhiều hơn. Nói đi thì thế, nói lại thì cũng phải bình tĩnh mà công nhận với nhau rằng, cái anh thơ, cái sự thơ, cái "mỏ thơ" nó cũng có nhiều lúc làm cho cái người thơ phát ngơ phát ngẩn, phát cuồng phát dại, phát hâm hâm.

Thưa các bạn. Không phải ai cũng cuồng dại hâm hâm là lập tức biến thành nhà thơ. Nhưng những nhà thơ đích thị là người thơ, thì thế nào cũng có khoảnh khắc, giây phút ngẩn ngơ, hâm hâm, chập chập. Hâm hâm chập chập có lúc sai, có lúc hay, lúc dở. Hay lúc tuyệt đỉnh là  mà dở thì cũng... "dở đến như thế là cùng".

Âu cái tật của người thơ nó cứ là cái tính chung của những thi sĩ thời nào cũng…vậy.

Đã nhiều lần tôi được vui lây cái vui của Mai Liễu khi anh đang xếp tranh cho mấy anh bạn là họa sĩ đi triển lãm. Lại cũng có lần thấy anh hớn hở ôm một chồng bản thảo của các bạn nhà thơ dân tộc thiểu số đến nhà xuất bản để chuẩn bị đưa in với một gương mặt đầy phấn khích.

Và, phải nói thật, nếu bạn được "xem" cái không khí hôm Mai Liễu xách cây đàn tính tẩu từ trên Tuyên về xăm xắn tặng cho tôi, ngồi nhâm nhi với tôi vài chén rượu ngô suông, anh mới đem về thủ đô, rồi rậm rờ kể dăm ba câu chuyện về mấy ông bạn chung của chúng tôi cũng hâm hâm chập chập, chả ra đầu ra cuối gì, thì mới thấy cái sự bạn bè chân chất của cánh văn nghệ sĩ miền sơn cước nó thấm đậm thế nào.

Tôi có vài tháng sống một mình trên Đồng Văn - Mèo Vạc, khi ấy vì không may lỡ chuyến xe về xuôi nên tôi phải ở lại. Cái không may vì đường giao thông hiểm trở mà tôi bị "kẹt" lại trên núi cùng với đồng bào Mông. Tiếng tăm không biết. Mới đầu bắt bạn làm quen với mấy ông già.

Sau học được dăm tiếng, tôi mon men chơi với bọn trẻ con, và sau nữa bắt thân với cánh bạn nam nữ thanh niên. Quan hệ rộng ra tôi thành người thân của bà con, sau có Mai Liễu và mấy anh em Hội văn nghệ của Tỉnh đi công tác lên tiện thể "rước" cái thằng tôi vô sừng vô sẹo về. Chả phải ngẫu nhiên mà tôi gặp được một cô gái Tày lên đây "làm tín dụng" từ khi cái thời ấy, thời chúng tôi còn rất trẻ và chàng trai Tày Mai Liễu thấy đôi lứa xứng đôi nên hay xúi bẩy cặp đôi trêu ghẹo thành ra câu chuyện "đá và em" tung tẩy giữa rừng. Mai Liễu nhà thơ ra sức cổ động viên cho tôi tự thể hiện mình.

anh ơi anh
khi anh tới đất này
rượu có sẵn như em có sẵn
em rót rượu mời anh
em chọn buồn chọn vui dốc ngược…

Mai Liễu bảo tôi xuất thần. Tôi bảo không phải xuất thần mà vì khi ấy, làm đến đấy, tôi toàn nhớ cái đêm Mai Liễu đốt lửa cho tôi đọc thơ mà tôi thì tôi đã quá say rồi. Mai Liễu cũng say. Cô gái Tày xinh đẹp đêm ấy cũng uống cùng chúng tôi, say cùng chúng tôi. Không khí đêm mùa đông năm ấy trong căn nhà bếp nhỏ của dân làm tín dụng ấm mãi với tôi tới tận sau này.

Sau này xa rồi, vậy mà có lần Mai Liễu lên thăm lại, hỏi mãi, tìm mãi mà không tìm ra. Chúng tôi mất cô gái Tày trẻ xinh ấy. Đúng hơn, cô gái ấy đã biến mất khi cả hai chúng tôi cùng đã thành ra hai lão già ngồi uống rượu nóng trong đêm của căn hộ chung cư cao chất ngất giữa thủ đô giá lạnh.

Lập đông 2015

Nhà thơ Mai Liễu (bên trái) và nhà thơ Bằng Việt.

Trung Trung Đỉnh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).