Nhà thơ Lê Cảnh Nhạc, đi về phía mặt trời...

Nhà thơ, TS. Lê Cảnh Nhạc vừa “tái xuất” với tác phẩm thơ “Đi về phía mặt trời”. Từ lúc anh xuất bản 2 tập thơ song sinh “Non nước đàn trời” và “Khúc thiên thai” đến nay vừa đúng 10 năm. Cùng lúc xuất bản tập sách nhạc với hơn 150 ca khúc phổ thơ ông. Thơ là khúc hát tâm hồn Lê Cảnh Nhạc, đến lượt ca khúc chắp cánh cho thơ bay lên. Thơ Lê Cảnh Nhạc có sự giao cảm khác lạ với nhiều nhạc sĩ.

“Đi về phía mặt trời” được nhà thơ Lê Cảnh Nhạc chia ra làm hai phần, Phần II có tên “Hồn Việt” gồm 64 bài. Bài thơ “Hồn Việt” được nhà thơ ủy nhiệm làm tên chung cho cả phần và tự nó giới thiệu với bạn đọc những cảm xúc của Lê Cảnh Nhạc với quê hương, đất nước. Đó có thể là những cảm xúc thăng hoa từ ký ức, hoài niệm; nhưng cũng có thể là những cảm xúc lớn về truyền thống, lịch sử đáng trân quý, tự hào của dân tộc.

untitled-3.jpg -1
Nhà thơ, TS. Lê Cảnh Nhạc.

*

Hồn Việt ngân nga trong tiếng đàn bầu/ Hồn Việt thơm danh Thạch Sanh, cô Tấm/ Hồn Việt tạc nên tượng đài Thánh Gióng/ Chim Lạc trống đồng, sóng Bạch Đằng giang”, (Hồn Việt). Lê Cảnh Nhạc quán chiếu từ nhã nhạc cung đình, văn hóa cồng chiêng cho đến ví dặm, ca trù, quan họ, đờn ca tài tử... Đó không chỉ là thành tố làm nên hồn Việt nữa, mà đã trở thành giá trị phi vật thể của nhân loại.

Hồn Việt tắm trong xanh ngát bóng tre/ Chắt chiu tinh hoa tự cường dân tộc/ Bốn ngàn năm non sông gấm vóc/ Kết tinh trong hồn Việt hôm nay” (Hồn Việt). Đúng là hồn Việt, giá trị Việt đã được kết tinh thành sức mạnh, “Nước những người chưa bao giờ khuất” (“Đất nước”, thơ Nguyễn Đình Thi), thành trường tồn: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” (Phạm Quỳnh), "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh). “Hồn Việt” là bài thơ lớn về tư tưởng.

Tựa như tình yêu Tổ quốc luôn chảy trong huyết mạch nhà thơ Lê Cảnh Nhạc, dồn lên cảm xúc thành thơ. Bài thơ “Đất Việt trường tồn” chỉ có 8 khổ, 32 câu thơ, 268 từ nhưng đó là bản hùng ca về lịch sử dựng nước, giữ nước, chiến thắng giặc ngoại xâm từ thuở Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh.

Thế kỷ hai mươi/ Cả đất nước hát bài ca ra trận/ Dáng đứng Việt Nam - Tượng đài chiến thắng/ Muôn triệu con tim nhân loại hướng về” (Đất Việt trường tồn). Không chỉ có tự hào, bài học từ thời Hùng Vương còn nguyên giá trị, “Qua lửa chiến tranh càng trân quý bình yên/ Chuyện nỏ thần nhắc muôn đời giữ nước”.

Đọc bài thơ này, dẫu không biết thời gian sáng tác, nhưng chắc chắn, cảm thức thời gian thuộc về lần nhà thơ Lê Cảnh Nhạc ra công tác ở quận đảo Trường Sa. Ông nhận ra những điều lớn lao từ cảm xúc.

...

Những dòng sông ra biển đón bình minh
Bão tố bao đời tràn vào theo con sóng
Lưới phòng thủ canh biển trời lồng lộng
Tiếng chuông chùa vang vọng giữa trùng khơi.

                                    (Đất Việt trường tồn).

Vốn là nhà báo, Lê Cảnh Nhạc có điều kiện đến với nhiều vùng của đất nước, trong đó có quần đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc. Về đề tài biển, đảo trong đề tài về quê hương, đất nước, ông có cả một chùm vạm vỡ, như “Đảo Sơn Ca”, “Đảo Sinh Tồn”, “Hành trình”, “Tàu đi giữ đảo”, “Hướng về Gạc Ma”, “Những chú chó Trường Sa”, “Anh nuôi trên biển”, “Trên vành đai san hô”.

Người lính trong thơ Lê Cảnh Nhạc hiện lên bình dị, nhưng cương cường, vượt qua mọi sóng gió, bởi “Đảo là nhà, biên giới là quê hương”. Cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại huyện đảo Trường Sa, đảo xa là quê hương thứ hai, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm nỗ lực hết mình góp phần bảo vệ vùng trời, vùng biển thiêng liêng Tổ quốc.

Có đến Trường Sa mới hiểu vì sao trên đảo có loài cây phong ba và bão táp; mới hiểu, Tổ quốc nhiều khi chỉ là một quả bàng vuông, một hòn đá mồ côi mà ta nhìn thấy. Tất cả làm cho tâm hồn thơ Lê Cảnh Nhạc lay thức.

...

Những hòn đá mồ côi ngày ngày vẫn ngoi lên
Ngóng về Gạc Ma rồi ngụp chìm trong nước
Ngọn đèn Cô Lin suốt ngày đêm đứng gác
Lá chắn Trường Sa trước vây bủa quân thù.

                                                (Hướng về Gạc Ma).

Bạn đọc của nhà thơ Lê Cảnh Nhạc dễ nhận ra xuyên suốt tình cảm trong thơ ông là tình yêu với Tổ quốc, quê hương. Đó là mảng đề tài lớn, thủy chung, nổi bật. Sau “Non nước đàn trời” và “Khúc thiên thai” (xuất bản năm 2015), “Đi về phía mặt trời” là tiếp nối cảm xúc. Mọi miền Tổ quốc, từ Tây Bắc, Tây Nguyên đến Đất Mũi và các địa danh cụ thể theo bước chân Lê Cảnh Nhạc, tâm hồn ông đều thể hiện trên văn bản.

Lê Cảnh Nhạc sinh ra và lớn lên ở Hà Tĩnh. Xứ Nghệ nói riêng, miền Trung nói chung bọc đùm, không chỉ nuôi ông lớn lên, mà còn là nơi bồi đắp tâm hồn. Trong “Đi về phía mặt trời” có 12 bài thơ về vùng đất “Nắng cong đòn gánh/ Nắng cong bờ biển/ Nắng cong Trường Sơn”... “Câu ví chảy qua sông/ Điệu hò vắt qua núi/ Rót hồn dân tộc/ Vào câu lục bát” (Miền Trung).

Quê hương không chỉ nặng lòng trong thơ, ngoài đời, Lê Cảnh Nhạc là nhà thơ trân quý hiện sinh, vun khởi phồn sinh. Ngay từ những ngày còn công tác, khi đang có tầm ảnh hưởng rộng lớn cho đến lúc nghỉ hưu, ông luôn dấn thân vì những hoạt động hướng tới cộng đồng. Có thể đó là hàng trăm con bò giống dành cho người nghèo, có thể là hàng ngàn tô cháo cho các bệnh nhân nghèo ở các bệnh viện...

Tâm hồn nhà thơ Lê Cảnh Nhạc vừa dào dạt tình cảm, vừa trăn trở suy tư trước số phận; nhưng chưa bao giờ hết hy vọng vào những điều tốt đẹp.

....

Những con đường thơm nắng ban mai
Những con đường lan hương đồng nội
Đường về làng hoa đường ra phố mới
Chở ước mơ xanh đến với cội nguồn

                              (Âm vang những con đường)

*

Lê Cảnh Nhạc vốn là thầy giáo, sinh ra đầu nguồn dòng sông La. Đấy là vùng vừa là căn cứ của nghĩa quân Phan Đình Phùng, vừa là đất thơ, quê hương của thi nhân Huy Cận. Bởi thế, những tiếng vọng vô thức được khởi cảm từ những ám ảnh sâu sắc. Ông tri âm với thiên nhiên, vũ trụ; tri âm và hòa điệu. Thơ Lê Cảnh Nhạc, như tên thân sinh đặt cho ông, là nốt nhạc của vũ trụ, khai ngộ huyền diệu.

Trong “Đi về phía mặt trời”, Phần I của tập thơ được ông đặt tên “Dặm đời”, gồm 58 bài thơ. Nếu như Phần II “Hồn Việt” có thể hiểu là những cảm xúc từ “dặm đường” thì Phần I là “dặm đời” chất chưa suy tư, suy cảm. Lê Cảnh Nhạc ngộ về tồn sinh, số phận, kiếp người... Kể cả tình yêu với quán chiếu vô thường. Có thể nhận ra vẻ đẹp mỹ triết qua các thi phẩm “Cát”, “Hạt bụi”, “Con tàu và bến cảng”, “Hư vinh”, “Quyền lực”, “Nhân thế”, “Thời gian”.

...

 Hạt cát nhỏ nhoi mênh mông sa mạc
Thăm thẳm biển khơi bát ngát đất trời
Cát trẻ trung vĩnh hằng không tuổi
Cát chở che muôn vạn kiếp luân hồi

                                                     (Cát)

Nhà thơ Lê Cảnh Nhạc, đi về phía mặt trời... -0
Bìa tập thơ "Đi về phía mặt trời".

Bài thơ “Người thầy vĩ đại”, không phải lấy cảm hứng từ một người thầy cụ thể, mà đó là thời gian. Không còn trẻ về tuổi đời nên trong thơ Lê Cảnh Nhạc có triết lý vô thường. Thật vậy, cuộc sống luôn đan xen, giao hòa giữa những ngày vô tận và những cung bậc thăng trầm. Ở đó có hợp, có tan; có niềm vui, nỗi buồn; có khóc, có cười...; “có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”, ("Đồng dao cho người lớn", thơ Nguyễn Trọng Tạo).

...

Ta đếm tuổi ta bằng số bạn bè
Ta đếm cuộc đời bằng nụ cười thân thiết
Rồi tất cả chúng ta đều được ban cái chết
Bởi người thầy vĩ đại: Thời gian.

                                  (Người thầy vĩ đại).

Lê Cảnh Nhạc là một nhà thơ có tâm hồn yếu đuối và nhạy cảm. Trong “Đi về phía mặt trời”, hẳn nhiên, không thiếu những bài thơ về đề tài tình yêu. Dễ nhận ra qua các thi phẩm “Trăng và biển”, “Bóng trăng”, “Chưa một lần trăng”, “Anh trút lòng tham với em thôi”, “Đừng trách nghe em”, “Hai nửa”...

Không gian nghệ thuật thơ bao giờ cũng hiển thị ở các thi ảnh. Vì sao khi viết về tình yêu, nhà thơ Lê Cảnh Nhạc hay dùng các biểu tượng nghệ thuật màu sắc, cỏ cây, hoa lá, thiên nhiên và nhất là trăng?

Trăng một hành tinh trong hệ Mặt trời; nhưng trong thơ Lê Cảnh Nhạc hiện hữu của khát khao mộng tưởng. Trăng nhiều khi cũng lạnh lùng nhẫn tâm, trăng gần lắm mà cũng cách xa vời vợi, trăng nồng nàn mê đắm mà cũng vô tình lãng quên... Lê Cảnh Nhạc có những câu thơ mê đắm trong mơ hồ trăng.

...

Trăng trinh nguyên trong cõi mơ hồ
Tan vào sóng hòa dòng đời mặn chát
Nhào trộn giọt tinh cầu trong vắt
Khúc đớn đau và hạnh phúc đê mê. 

                                             (Trăng và biển).

Trong thi phẩm “Nhân thế”, Lê Cảnh Nhạc nhận ra vô thường: “Ai rồi cũng trở về cát bụi”. Sinh ra một kiếp người ở “quán trọ trần gian”, (chữ của Trịnh Công Sơn), ai cũng nếm trải đắng ngọt, chua cay. Và dù, nói như TS. Ngô Tự Lập, đau đớn cũng là một “gia vị” ở cuộc đời; Lê Cảnh Nhạc vẫn tin vào tình yêu như hằng tin vào thơ: “Khỏa lấp cô đơn xoa dịu thương đau/ Hai dòng sông tan hòa biển cả/ Mặc kệ ai người kiếm tìm vay trả/ Hạnh phúc đong đầy hai nửa thuộc về nhau” (Hai nửa).

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).