Nhà thơ Lâu Văn Mua - Bụng đói lòng no

“Người Mông chúng tôi quen với nương ngô, bậc đá, với tiếng khèn gọi bạn tình đêm hội, với bát rượu ngô say men người. Cuộc sống còn nhiều gian khó, cái “bụng đói” vẫn luôn hiện hữu trong từng bữa ăn đạm bạc, trong nỗi nhọc nhằn mưu sinh. Nhưng từ đó, cái “lòng no” mới tỏa sáng: No tình thương, sự sẻ chia, lòng tự trọng và niềm kiêu hãnh làm người”.

Năm 2025 này, nhà thơ trẻ Lâu Văn Mua trình làng 2 tập thơ: “Bụng đói lòng no” và “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng”. Cả hai tập đều do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Trước đó, năm 2017, Lâu Văn Mua đã ra mắt tập thơ đầu tay “Tôi bay vào mắt em”, NXB Văn học.

Một giọng thơ trẻ trung, táo tợn mà đầy chất Mông

Tôi biết nhà thơ trẻ Lâu Văn Mua người dân tộc Mông rất tình cờ. Vào dịp Tạp chí Xứ Thanh tổ chức gặp mặt cộng tác viên. Lâu Văn Mua đọc thơ như một cách để giới thiệu về mình: “Giống như một chiếc váy bướm/ một điệu nhảy xung quanh/ chu vi của ngọn lửa ngọn đuốc/ như trên phụ đề/ tại matinees nước ngoài, đôi mắt của tôi/ trên của em là mê/ như van nài violin khóc/ giọng nói của em tìm thấy con đường/ để tâm hồn sâu sắc nhất của tôi/ như crème brulee kéo dài/ trên lưỡi của tôi, tôi muốn/ hương vị nhiều hơn của những nụ hôn của em/ …Và tình yêu của em giống như/ mềm như lụa/ đỏ trên hoa hồng/ và ngọt ngào/ là vĩnh cửu/ khi trái tim tôi thổn thức” (Tôi bay vào mắt em).

untitled-1.jpg -0
Nhà thơ Lâu Văn Mua.

Xưa nay hễ có tác giả thơ nào là người dân tộc thiểu số thì điều dĩ nhiên là thơ của họ đều in đậm phong cách dân tộc cùng dấu ấn miền núi? Đọc thơ của Lâu Văn Mua lại khác, ngoài nét trẻ trung, sự mạnh bạo và khá thoáng đạt về ngôn từ ra, dường như còn thấy lấp ló đâu đó hình như là một ý nghĩ kiểu “nổi loạn” của tác giả là muốn “thoát” khỏi cái “khuôn khổ dân tộc và miền núi” xưa nay.

Thơ Lâu Văn Mua đã tự do hơn trong truyền tải thông điệp và cũng tự do hơn bởi những suy nghĩ chỉ có ở những người trẻ tuổi. “Trong vòng tay của em, một thế giới của ân sủng/ tôi biết rằng tôi đã tìm thấy vị trí của tôi/ nụ cười tuyệt vời của em, âm thanh giọng nói của em/ nó được hoàn toàn rõ ràng, tôi không có sự lựa chọn” (Rơi).

Sinh năm 1992, quê ở bản Pù Toong, xã Pù Nhi, tận miền Tây tỉnh Thanh Hóa. Lâu Văn Mua con trai út trong một gia đình người Mông có tới 10 người con, sau khi tốt nghiệp Đại học Văn hóa thể thao và du lịch Thanh Hóa, khoa Văn hóa Thông tin, cậu quyết định trở về quê để…. sáng tác tự do.

Thực ra thì mấy năm trọ học ở thành phố Thanh Hóa cậu sinh viên Lâu Văn Mua đã kịp có cho mình một “gia tài văn chương” nho nhỏ. Trong đám sinh viên trẻ tỉnh Thanh đã “nổi lên” cây bút thơ Lâu Văn Mua. Cậu đã trình làng báo văn nghệ tỉnh nhà, ra mắt báo văn nghệ tỉnh bạn như: Lạng Sơn, Hải Phòng, Nam Định (cũ) và tận thành phố Hồ Chí Minh. Giọng thơ Lâu Văn Mua “là lạ” nên giành được sự quan tâm của các báo. Tạp chí Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng nhiều lần đăng thơ của Mua.

Còn tôi, tôi rất bất ngờ, thơ của Lâu Văn Mua chân chất mà lại táo bạo. Chân thành mà lại ngân nga: “Tay anh lúng túng/ nhưng trong đó có cả sự nâng niu/ như chạm vào điều quý giá nhất/ một bí mật anh chưa từng biết trọn vẹn/ Chiếc váy phủ lên em/ như một tấm áo choàng của những giấc mơ/ làm em đẹp hơn cả ngàn câu chữ/ Anh mặc váy cho em/ như vẽ một bức tranh/ để từng nếp vải ôm lấy cơ thể/ nhẹ nhàng như một làn gió xuân” (Mặc váy cho em).

Lâu Văn Mua thật thà cho hay anh đến với thơ chỉ vì một lẽ là ở Thanh Hóa hiện nay chưa có một ai là người dân tộc Mông làm thơ cả, khi mà người Mông ở các tỉnh khác như Lào Cai chẳng hạn đều có những nhà thơ, nhà văn làm rạng danh quê hương làng bản của họ.

Hơn nữa việc nghiên cứu văn hóa dân tộc Mông Thanh Hóa lại đang khuyết đang trống nên cậu rất mong muốn làm công việc đó. Hơn hai trăm năm định cư trên đất Xứ Thanh, hiện người Mông Thanh Hóa sống ổn định ở 26 bản. Huyện Mường Lát cũ có số người Mông sống đông nhất. Đấy cũng là thuận lợi để việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở Thanh Hóa được khai triển.

Một tư duy thơ đậm tính triết lý

Ngồi nói chuyện với tôi, cây bút thơ trẻ Lâu Văn Mua không ngại ngần gật đầu khi tôi cười nói đùa “Đúng là cái lý người Mông” và động viên cậu “Tương lai gần sẽ có nhà thơ kiêm nhà nghiên cứu văn hóa người Mông tên là Lâu Văn Mua”.

Lâu Văn Mua không phản bác lời tôi nói, anh trả lời bằng câu thơ: “Bụng đói rau cũng ngọt/ lòng no, của quý hóa thừa/ người nghèo cơm trắng là thơm/ kẻ giàu, cao lương cũng nhạt”. Với thơ, Lâu Văn Mua dường như gửi vào đó “triết lý sống” của mình, “triết lý sống” của người Mông. “Chim trời ăn hạt trời ban/ người muốn sống, đừng quên nương đất/ được no, đừng khinh kẻ khổ/ được giàu, đừng quên ngày nghèo” (Bụng đói lòng no).

Đúng như nhà thơ trẻ Lâu Văn Mua đã tâm sự: “Tôi mong rằng, qua từng câu chữ, người đọc sẽ cảm nhận được hơi thở của núi rừng, nỗi khổ nhọc mà thanh cao, và hơn hết là sức sống bền bỉ, dẻo dai của một dân tộc biết giữ gìn phong tục, gìn giữ lòng người trong sáng trước bao đổi thay”.

Ở bài thơ “Nhen lửa”, nhà thơ trẻ Lâu Văn Mua đã viết: “Em về/ như một tia nắng muộn. Lọt qua khe trời ảm đạm/ Lòng anh/ tro tàn đã nguội/ ngỡ chẳng còn gì để cháy/ Nhưng bàn tay em/ nhẹ nhàng như ngọn gió/ khuấy động những tàn than/ Ánh mắt em/ như một que diêm/ lóe lên trong khoảng không lạnh lẽo/ Lửa bừng cháy”.

untitled-2.jpg -1
Bìa một tác phẩm của nhà thơ Lâu Văn Mua.

Tư duy triết lý là ở chỗ đó, một khi có niềm tin và có tình yêu thương thì “cuộc đời mới” sẽ dâng hiến những gì từ điều tưởng chừng đã nguội tàn. Sự sống luôn đặt ra những mong ước, những mong ước giúp cho con người “hồi sinh” từ “đống tro tàn”. “Ngày sa tàn, mặt trời lịm đi trong ánh đỏ/ Bóng tối trải dài, nuốt chửng mọi giấc mơ/ Những con đường cũ, phủ bụi thời gian/ Người đi qua, chỉ còn lại dấu chân mờ... Ngày sa tàn, không phải là kết thúc/ Mà chỉ là bóng đêm trước bình minh/ Hãy nhìn thật sâu vào tro tàn xưa cũ/ Sẽ thấy mầm sống đang đợi hồi sinh” (Ngày sa tàn).

Vẫn là cách nói “thẳng ruột ngựa” của người miền núi, của người dân tộc Mông bao đời sống trên núi cao mù sương, giọng thơ của nhà thơ trẻ Lâu Văn Mua đã biết “chắt lọc” ngôn từ của đồng bào mình và cậu đã đưa những ngôn từ ngay thật ấy lên “tầm đương đại”, như: “Một niềm đam mê xuyên thấu/ Sâu thẳm như một con dao/ Tôi hạnh phúc, tôi tìm thấy em/ Tình yêu của đời tôi”.

Đời sống văn nghệ nước ta mấy năm gần đây đã khích lệ nhiều người trẻ tuổi dấn thân vào sự nghiệp văn học đầy khó khăn, nhất là trong thời buổi cơ chế thị trường. Trường hợp của Lâu Văn Mua không ngoài “trào lưu” ấy, thơ của Lâu Văn Mua cho thấy một lựa chọn rất đáng trân quý. Những vần thơ mộc mạc nói về quê hương đất nước còn hơn cả vạn lời ngợi ca. Lâu Văn Mua đã cho thấy đâu đó cái nhìn đầy chất nhân văn về xứ sở mình sinh sống. Cái nhìn chất chứa. Cái nhìn tự hào như đưa ra một dự báo về một nhà nghiên cứu văn hóa Mông Thanh Hóa trong tương lai gần.

Đọc thơ của Lâu Văn Mua sẽ không thấy cái “gập ghềnh dốc lên dốc xuống” như các nhà thơ người dân tộc thiểu số thường viết. Cũng không thấy “cái gượng gạo” của các nhà thơ dân tộc Kinh cố tình viết cho “ra vẻ” dân tộc và miền núi. Thơ của Lâu Văn Mua thấy vừa dân tộc lại cũng thấy rất quảng đại. Cậu làm thơ với vốn văn hóa đã được học và với vốn ngôn từ cùng phong cách sống của dân tộc mình, của quê hương xứ sở mình.

Nhưng trong tim vẫn còn một vầng trăng khác/ vầng trăng của ký ức, của những đêm xưa/ và tôi hiểu rằng, dù trăng có đi qua/ vẫn còn một phần của nó ở lại trong lòng tôi” (Chia tay vầng trăng). Lâu Văn Mua không bỏ qua “sự khu trú vùng miền” mà cậu đã “kéo” sự khu trú xích lại và hòa nhập với văn học chung. Kéo để “Vẫn có những điều mới mẻ chờ đón phía trước”.

Nhà thơ Lâu Văn Mua đã nhận nhiều Giải thưởng về Văn học: Giải Nhì (Không có giải nhất) Cuộc thi tản văn – Giải Hoa hồng vàng lần thứ I, (nhóm Cộng đồng Văn xuôi Facebook 2025); Giải C – Cuộc thi Thơ ca và nguồn cội lần thứ 3, Hội thơ Làng Chùa 2025; Giải C - Giải thưởng hàng năm của Hội VHNT Thanh Hóa 2025 cho tập thơ Lâu Văn Mua (Nhặt xác em chất chồng bảo tàng). Anh là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).