Nhà thơ Bế Thành Long: Người đạp xe ngược dốc

Tính đến tháng chín này, nhà thơ Bế Thành Long ngót nghét chín chục tuổi. Con số bảy mươi, hay tám, chín mươi, một trăm chả nói lên điều gì cả. Nhà thơ Bế Thành Long và tình yêu trong thơ, làm gì có năm tháng tuổi tác. Nhà thơ và tình yêu là cái đáy đau buồn tích tụ trong chai rượu cuộc đời. Thi nhân xưa nay thường lấy cái đau khổ chính cuộc đời mình để lên men và cấy vào thơ.

Những năm chút chít của cuộc đời, nhà thơ Bế Thành Long đang là một kiệt tác của Cao Bằng. Anh lững thững một bên râu mây trắng toát còn một bên là tre trúc tốt tươi trên non cao. Hình như lúc nào anh cũng nghiêng nghiêng dìu những câu thơ hay lên dốc. Những câu thơ được làm từ chính da thịt anh, từ ngón tay mân mê từng chòm đá núi. Bạn bè thân sơ đều bị anh làm thôi miên quên hết đường về cơm nước với vợ.

Thơ anh hay đã đành, cái chính là ở trong người có chất giọng hát opera bẩm sinh. Khi cần véo von là véo von như chim. Lúc trầm xuống thì nồng nàn như bếp lửa. Bởi nó hay còn ở động tác nhịp nhàng của mười ngón tay phụ họa. Mười ngón tay như mười chàng nghệ sỹ thoát y khiêu vũ. Khi ngón tay trỏ búng lên, làm câu thơ anh vùn vụt lóe sáng. Lúc chúc xuống câu thơ như hòn than âm ỷ trong tro chưa kịp tàn. Gần vào đoạn kết, anh rải thơ như gieo hạt.

image002.jpg -0
Nhà thơ Bế Thành Long (bên trái) cùng bạn thơ.

Thơ anh hay đã đành, nhưng thơ anh làm mới. Mới ngay từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Cộng thêm là một con người hiền lành và cực kỳ khiêm tốn, bạn bè quý trọng yêu mến, đã đem đến cho anh khá nhiều phiền lụy. Nhưng anh không bao giờ hé răng kêu oan. Đêm về, anh chuyện trò cùng chiếc bóng của mình trên con đường già nua cũ kỹ. Con đường như một vòng cung khép kín thị xã Cao Bằng chật hẹp. Cách nhà anh không xa có con sông Bằng đang kỳ trăng viên mãn. Muôn vàn gió mát thổi ra từ mặt sông lên mặt anh. Một dòng sông rất mực hiền hòa. Một con người cũng rất mực hiền hòa. Anh và sông là hai thiên nhiên vô tư nghiêng nghiêng đi trong ánh trăng mười sáu. Bế Thành Long rì rầm với sông. Sông nhỉ, khi nào lắng hết bùn, người sẽ nhìn thấy cát.

Đúng thế. Chính xác là thế. Từ đó đến nay, anh có một loạt tác phẩm thơ từ từ ra đời. Tuy từ từ nhưng phổng phao, khỏe mạnh. Bây giờ, tại cơ quan Hội Nhà văn hễ có ai xướng tên Bế Thành Long, hầu như ai cũng biết. “Bế Thành Long ư? Đấy là một con người tuyệt vời”. “Bế Thành Long ư? Một nhà thơ độc đáo”.

Tôi nhớ có lần anh tự kể. Mình vốn là hậu duệ của dòng họ Đào Duy. Tên đầy đủ là Đào Duy Vân. Nhưng không hiểu vì sao lại mang họ Bế. Bế Thành Long. Dân tộc Tày. Anh sinh ra trong một gia đình viên chức thời trước. Mọi sinh hoạt đều theo nền nếp lễ giáo gia phong. Từ ngày còn nhỏ, anh được cha mẹ rèn dũa tỷ mỷ. Đó là một bà mẹ đẹp lão, lúc nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Bà là hiện thân sinh động của một kiểu người con nhà gia thế. Bà luôn coi những bạn bè của con mình như người thân trong nhà. Bà dành những miếng ngon nhất, lạ miệng nhất đãi khách. Khi thấy chúng tôi gắp những miếng thịt thỏ sốt rôti, theo kiểu người Thái, xuýt hà kêu cay. Bà mủn mỉn cười, lấy làm hài lòng.    

Trở lại câu chuyện đời thường của nhà thơ. Đến nay anh vẫn “mờ mờ nhân ảnh”. Chẳng bao giờ tôi nghe thấy anh nhắc đến quá khứ. Quá khứ vinh hay nhục, sướng hay khổ, đều bị anh cho vào túi pác mạ, treo toòng teng lên xà nhà.

Tôi chỉ được nghe loáng thoáng qua lời kể của nhà báo Nguyễn Như Mai, kiến trúc sư Đoàn Đức Thành. Họ là những người bạn thân thiết của anh Long, từ hồi cùng học trường cấp hai, sơ tán ở Bản Đà, trong những năm chống Pháp. Đó là một chàng thư sinh, lịch thiệp, đẹp trai, tóc xoăn, học hành rất giỏi. Đặc biệt là môn văn. Tâm hồn anh cứ lãng đãng theo:

“Cầu bên núi xa chênh bóng nước
Mây ngàn gieo tải nắng phương xa...”.

Thưa nhà thơ họ Bế. Anh viết đến thế thì còn ai dám xa quê hương nữa. Tôi không nín được cơn buồn ở trong người. Nỗi buồn của những ai tha hương cầu thực. Nỗi buồn ấy, nhìn cây cũng ra nước mắt. Nước mắt màu xanh.

image003.jpg -0
Nhà thơ Bế Thành Long và một tác phẩm thơ của ông.

Nhưng nỗi buồn về cái tôi bé nhỏ, rồi nhẹ nhàng tự tan ra, nhường chỗ cho cái ta rộng lớn. Ấy là khi anh vẽ chân dung thi hào Tagore vĩ đại:

“Râu tóc cũng phải lòng mây gió
Du hành, suy tưởng, trắng phơ phơ
Tương tư những đỉnh đời hóa đá
Trong hư vô, cũng lạ, trơ trơ”.

Cuộc đời Bế Thành Long, chỉ thích được làm bạn với muôn loài cỏ cây, với núi cao sông sâu và các bậc hiền nhân quân tử, bước ra từ trang sách.

Trong thơ anh tịnh không thấy nỗi buồn tan nát, với mối tình tay ba tay tư, thường có trong đời. Nhất là ở tâm hồn lãng mạn bay bổng của các chàng thi sỹ.

Ta thấy các bóng hồng lác đác, thưa thớt xuất hiện trong thơ anh. Mà họ cũng chẳng nói gì. Không có những âm thanh run rẩy va nhau lập cập như rét.

Người đọc có thể hiểu mọi cảm xúc, đều được nhà thơ kiềm chế đến độ tối đa. Bóp bụng để yêu. Nín thở để yêu. Yêu như nén lò xo. Khi được dịp bung ra, tình yêu ấy sẽ bùng lên như cơn bão táp. Lúc ấy, họ chỉ có thể… tay nắm bắt vô cùng trăng sáng nhạt. Và lại trở về tâm trạng bãi bờ khô xác gió hoa lau.

Một loạt cụm từ: Hững hờ, nhạt, lạnh, trơ trơ, khô xác, co kéo, xa chênh... Đối lập hoàn toàn với: Đường bệ, sải cánh, kìn kìn, âm vang, thu về lớp lớp, chúc mũi đi nghiêng, gõ mênh mang… Rất phức tạp. Tạo ra cảm xúc he hé, mới lạ trong tiếp nhận thơ của Bế Thành Long.

Trời ơi! Cái gió mùa đông bắc khi nó tràn tới, nó thổi rời rạc cả đá núi, bạc cả nước sông, mốc meo cả da người. Thổi mệt mỏi những đám lau lách. Thổi đến nỗi bãi bờ khô xác. Hai chữ khô xác ôm đủ, lãnh trọn một hiện thực thiên nhiên Cao Bằng nghiệt ngã.

Ai đã từng tiếp xúc với nhà thơ Bế Thành Long, chắc khó lòng mà quên mọi cử chỉ, lời nói từ con người anh. Tất cả đều toát lên một vẻ đẹp thuần khiết của người miền núi. Bế Thành Long e thẹn và hay xấu hổ. Đó bức chân dung thực chất nhất về Bế Thành Long.

Tôi còn nhớ vào những năm giữa của thập niên 80 đầu 90. Khi đó, anh mới ngoài năm mươi leng leng chút chút. Mọi người thấy Bế Thành Long để râu. Bộ râu đen nhánh xùm xòa che kín ngực. Anh bảo, tớ chỉ ba tháng không cạo, là được như thế này đây.

Tôi nghĩ bụng, xem ra bộ râu ria này còn có thể lấy thêm vợ. Y như rằng. Sau khi nhận sổ hưu, nhà thơ họ Bế mủm mỉm thắt cà vạt, nghiêng nghiêng đi làm chú rể thêm một lần nữa.

Chuyện tình nhà thơ người Tày này còn dài lắm. Điều ấy, nếu kể ra, cũng thường thôi, chẳng bất ngờ. Ngay cả hàng tre rì rào trước cửa nhà, mỗi khi nhìn thấy anh lúng loắng từ đâu bước đến, tre liền ngả một tiếng chào: “Kọt kẹt!”.

Nhà thơ Trần Hùng kể. Có một hôm, đi cùng anh Long vào một quán hàng cơm phở. Hai người gọi hai bát phở vịt. Bà chủ quán cung kính. “Dạ! Đây là bát của cụ. Không xương xẩu gì đâu cụ ạ”.

Hai người nháy mắt hích hích cười. Rồi đột nhiên, bà chủ quán nghe thấy từ chỗ “cụ” Long ngồi, rộ lên ba tiếng rột. Sau ba tiếng rột, hết nhẵn cả bát phở.

Bà chủ quán tròn xoe hai mắt, há to môi miệng. Thấy phê quá, bà đon đả. “Dạ! Con mời cụ dùng thêm bát nữa nhé”. “Thôi! Cảm ơn. Tôi đủ rồi. Trước khi qua đây, tôi đã tranh thủ làm hai thanh lương khô A72. Bát phở này là ăn thêm”. “Ối! Thật phúc đức…”. Bà chủ quán thốt lên đầy vẻ thán phục. Năm đó, hình như bà ta đã ngoài sáu mươi. Còn nhà thơ Bế Thành Long, chắc chắn kém bà chủ quán đến cả chục tuổi.

Y Phương

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.