Nhà phê bình Phùng Gia Thế - những song hành đối thoại

Trong giới nghiên cứu lý luận phê bình văn học, cái tên Phùng Gia Thế tuy không quá nổi trội nhưng luôn có vị trí vững chắc và giọng điệu riêng. Với ông, viết phê bình là đồng hành và chia sẻ, là đối thoại và lắng nghe phía các tác giả, bạn đọc và bạn nghề từ những ý kiến nhỏ nhất, có khi hợp với mình, có khi bao trùm mình hoặc có khi ngược chiều cũng đều là có ích. Xác định được như thế, mọi chuyện sẽ thảnh thơi hơn.

Viết phê bình để thêm bầu bạn, nhất là giới sáng tác vốn giàu cá tính đôi khi còn là cá biệt. Đây cũng là phẩm chất cần có của một nghề nghiệp vốn không dễ dàng nơi trường văn trận bút gian nan. Phùng Gia Thế đã xuất hiện, đã bước đi và khẳng định đai đẳng của mình, vị trí riêng có với một ý thức rất rõ ràng cũng là điều đáng khen vậy.

Phải chăng ông cũng là người sáng tác nên dễ bề đồng cảm và dễ dàng tìm được mật mã trong các tác phẩm văn chương? Truyện ngắn Phùng Gia Thế nhiều năm liền xuất hiện trên các báo, tạp chí… vững vàng và có cốt cách riêng. Có phải bởi vậy mà ông thuận thảo hơn trong đánh giá các tác phẩm văn chương? Thẩm định văn chương vốn khôn cùng, để tìm được những điểm sáng, những hạt vàng siêng nhặt của giới văn bút không phải dễ dàng đâu. Có nhà phê bình chỉ ưa thích "quất roi cho con ngựa sáng tác lồng lên" mà lấy làm chí thú liệu có là đúng đắn? Sáng tác cần đồng hành và chia sẻ. Những tác phẩm lớn luôn có tính độc lập của nó. Những phê bình dù thuận - nghịch không thể khiến những tác phẩm ấy lao lung. Đó là một sự thật hiển hiện trong văn chương nghệ thuật.

anh phung gia the.jpg -0
Nhà phê bình Phùng Gia Thế.

Phùng Gia Thế viết phê bình rất uyển chuyển. Ông còn rất biết đặt các tên tiểu luận: "Điều kiện hậu hiện đại của văn học Việt Nam"; "Tính chất các-na-van trong ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam đương đại"; "Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại"; "Tiểu thuyết đương đại - một cuộc chơi khó"; "Ngợm hóa nhân vật, loạn hóa xã hội? Liệu có đơn giản như thế không?"; "Một thí dụ tiêu cực về tiểu thuyết trẻ"; "Tiểu thuyết như là sự hiện hữu những khoảnh khắc thầm kín của tâm trạng"; "Văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới"; "Văn học đang có nhiều cơ hội để phóng thoát..."

Đương nhiên, chất lượng các tiểu luận không thể nào phụ thuộc vào tiêu đề nhưng sự chuyên nghiệp luôn phải được đặt ra ngay từ các tiêu đề. Không thể có một tiểu luận hay, thanh thoát, giàu tính văn chương nghệ thuật từ những cái tên ẩu tả. Điều này, Phùng Gia Thế luôn ý thức rất sâu. Ông viết chậm nhưng bay bổng, thanh thoát và hết sức chí lý từ quan điểm và tri thức của mình. Phùng Gia Thế tự tin vào những gì mình viết ra.

Các bài viết của ông về các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Việt Hà, Đặng Thân... đều trên nền tảng kiến thức sâu rộng, dung nạp những cái khác biệt và cái cơ bản là đã chuyển hóa tài tình chúng bằng ngôn ngữ chắc nịch nhưng cũng rất bay bổng của riêng ông. Nhiều trang văn phê bình của Phùng Gia Thế đọc không khác gì những trang sáng tác hay của các nhà văn. Điều này không phải lúc nào cũng thuận lợi cho ông, nhưng ít ra, trong phê bình rất cần sự thăng hoa như thế.

Nếu như sự giao du của giới phê bình với giới nhà văn luôn tiềm ẩn những bùng nổ không phải lúc nào cũng theo chiều thuận thì với riêng Phùng Gia Thế là cá biệt chăng? Các nhà văn mỗi lúc tụ bạ, giao lưu hoặc đối thoại với ông đều cảm thấy dễ chịu. Nói gì gã họ Phùng cũng tươi cười như muốn cầu thân với người sáng tác, ai ông cũng coi là viết hay hơn mình, đẹp giai hơn mình...

Phùng Gia Thế viết đâu chắc đó. Cuốn tiểu luận - phê bình "Văn học Việt Nam sau 1986 - Phê bình đối thoại" của ông phản ánh đầy đủ nhất lực bút và lực hút các tinh lực, tinh hoa của ông với các nhà văn. Nhà phê bình La Khắc Hòa từng rất kỳ vọng vào học trò cưng Phùng Gia Thế. Tôi thì cho rằng Phùng Gia Thế đã góp phần kéo lại gần gặn và thông hiểu giữa hai giới sáng tác - phê bình một cách giản dị và thông tuệ. Những bài phê bình trong tập sách trên đều là những tiểu luận được viết công phu, rất có trách nhiệm với nền văn học. Đây cũng là một trong những gương mặt có đóng góp hữu ích về lý luận phê bình sau Đổi mới 1986.

Chạm đến vấn đề hậu hiện đại của văn học Việt Nam, ông nhẹ nhàng nhưng cũng rất kiên quyết chỉ ra: "Không thể mặc nhiên nói đến thực tiễn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam đương đại nếu không chứng minh được những "điều kiện hậu hiện đại" của nó từ văn hóa. Nói khác đi, việc chứng thực sự tồn tại của một thực tiễn văn học hậu hiện đại ở Việt Nam chỉ có cơ sở khi người nghiên cứu chỉ ra được những điều kiện (tiền đề, hoàn cảnh) hậu hiện đại của nó trong văn hóa. Đây cũng là vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại ở nước ta quan tâm thỏa đáng".

Và Phùng Gia Thế cũng thật dụng công khi dùng đến non nửa tập sách dày gần 400 trang với hàng loạt bài viết rất sâu sắc về hậu hiện đại trong văn học Việt Nam. Đây cũng là một trong những đóng góp đáng kể về học thuật của Phùng Gia Thế.

fb.jpg -0
Bìa tập sách “Văn học Việt Nam sau 1986, phê bình đối thoại” của nhà phê bình Phùng Gia Thế.

Về trường hợp văn tài Nguyễn Huy Thiệp, đã có nhiều cuộc "cọ bút" của giới phê bình văn học nhưng ít ai chỉ ra được một cách bình tĩnh, thỏa đáng như Phùng Gia Thế: "Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chủ thể kể chuyện được đặt ở ngoài câu chuyện. Hình thức kể ở ngôi thứ ba. Câu chuyện đời sống được diễn ra "tự nhiên" qua lời của một người kể chuyện "vô hình". Đây là mô hình tự sự có từ truyền thống. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, hiển nhiên không đoạn tuyệt với truyền thống. Song, với sự sáng tạo nhiều mặt của nhà văn, sự khai thác đời sống vẫn được thực hiện phong phú ngay ở kiểu lựa chọn này".

Đó cũng là một cách đánh giá cân bằng dưới con mắt nhà khoa học mà ở đây là nhà phê bình văn học.

Phùng Gia Thế trên cương vị Tiến sĩ (2012), tiếp đó được công nhận chức danh Phó Giáo sư (2016) với chuyên ngành Lý luận văn học hiện tại đảm đương chức vụ Chủ tịch Hội đồng Trường, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã có nhiều công trình chủ biên, biên soạn và in ấn chung các sách tham khảo. Tiêu biểu phải kể đến: "Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (1986-2012)", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016; "Văn học Việt Nam sau 1986 - Phê bình đối thoại", NXB Văn học, 2016; "Văn học và giới nữ" (in chung), NXB Thế giới, 2016. Đặc biệt, ông đã công bố 32 bài báo khoa học tại các tạp chí uy tín trong nước và là khách mời thường xuyên của các cuộc hội thảo chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn. Cái tên PGS.TS Phùng Gia Thế luôn đảm bảo chất lượng của các tham luận trong các hội thảo khoa học mà ông tham dự.

Nhưng, mọi người thường biết Phùng Gia Thế nhiều nhất ở lĩnh vực phê bình văn học và sáng tác với thể tài truyện ngắn. Các truyện ngắn của ông luôn được đón đọc với một văn phong hóm hỉnh, sâu sắc, có giọng điệu riêng.

Khi được hỏi rằng hoạt động phê bình văn học (cho một tác phẩm) gần đây được tiến hành rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau như họp báo, đăng bài trên báo in, báo mạng, báo hình, tổ chức hội thảo, tọa đàm... nhưng nhìn chung vẫn chỉ là "câu chuyện của người trong giới" mà chưa thu hút được đông đảo công chúng; hiện tượng này được lý giải như thế nào và cần có biện pháp gì để đưa công chúng đến với các hoạt động phê bình văn học này nói riêng và văn học nói chung, Phùng Gia Thế thẳng thắn chia sẻ:

"Phê bình là hoạt động của giới chuyên môn. Khác với "cái mọi người cùng quan tâm" trong sáng tác, câu chuyện phê bình trước hết là câu chuyện của người trong giới. Một người bình thường có thể rất quan tâm đến vấn đề đặt ra trong một sáng tác văn học nghệ thuật song lại không quan tâm đến hoạt động phê bình là điều rất bình thường. Tôi chỉ sợ chính người trong giới thờ ơ với hội thảo, tọa đàm và thậm chí cả phê bình trên báo chí bởi sự thù tạc, ồn ào và vô bổ của nó mà thôi. Văn hóa thay đổi, văn hóa đọc cũng thay đổi. Người ta không thích đọc văn bằng xem phim, nghe nhạc thì cũng không phải điều gì quá bất thường. Lịch sử nghệ thuật đã chứng minh bao sự thăng trầm trồi sụt của các loại hình của nó. Bạn đọc phổ thông phần lớn không đến với văn học qua quảng cáo, hội thảo, tọa đàm. Họ đến với tác phẩm là bởi tác phẩm đó hay. Dĩ nhiên, một tác phẩm hay đối với một bạn đọc thông thường chưa chắc đã là một tác phẩm hay trong cái nhìn của người nghiên cứu. Thêm nữa, để công chúng quan tâm đến hoạt động phê bình nói riêng, đến văn học nói chung, nhà phê bình văn học phải nghiêm túc với chính mình và với công việc của mình".

Càng gần gũi, trao đổi về sáng tác, về phê bình văn học với Phùng Gia Thế, chúng tôi càng thấy kiến thức nền tảng của ông, nhất là tấm lòng đối với văn chương, nhất là văn chương sau dấu mốc Đổi mới 1986, ông đã có những đóng góp đáng ghi nhận. Vẫn biết rằng văn chương nghệ thuật là biển rộng vô cùng, song Phùng Gia Thế ở nơi biển rộng ấy đã định hình và định vị một cách đầy cảm xúc trong lòng bạn đọc và giới văn bút trên cả nước.

Phùng Văn Khai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).