Nguyễn Tiến Thanh trong miền phiêu lãng

Paul Valéry nói, đại ý, thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung của loài người, làm thơ tức là làm thế nào cho ngôn ngữ trở thành nghệ thuật. Nguyễn Tiến Thanh có khác, anh làm thơ, không làm chữ. Nói khác đi, sáng tác thơ với anh là sự tạo sinh và không gian hóa cảm xúc bằng ngôn từ. Điều này cũng có nghĩa, chữ trong thơ anh, theo mạch cảm xúc ấy, tự nhiên được gọi về, không cần cân đong, gò đẽo.

Sáng tác và có thơ công bố từ năm 17 tuổi, song mãi tới khi chạm vào tuổi ngũ thập, Nguyễn Tiến Thanh mới in thơ, và in liền hai tập ("Chiều không tên như vết mực giữa đời", NXB Văn học, 2021 và "Loạn bút hành", NXB Hội Nhà văn, 2021). Như thế, thơ, với Tiến Thanh, theo nghĩa nào đó, là một sự chơi. Chơi với kỷ niệm, với bạn bè. Chơi với con người nghệ sĩ của mình. Tất nhiên, ai cũng hiểu, sự chơi đó phải bằng sự tử tế, tài hoa, hoàn toàn không phải lối dụng thơ để làm sang.

anhnguyentienthanh1.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh.

Gặp Nguyễn Tiến Thanh ở ngoài đời, dù lần đầu hay khi đã thân quen đều luôn cảm nhận ở anh sự hào sảng, thân tình. Con người Tiến Thanh khi trút bỏ tấm áo hành chính, khỏi vai ông Tổng biên tập đương kim (với không ít áp lực, căng thẳng, cả "mệt quá thân ta này" nữa, hẳn rồi) là một người đàn ông gần gụi, yêu bạn bè, yêu kỷ niệm.

Đến nhà Tiến Thanh, thường bắt gặp hình ảnh ông chủ chốc lại chạy ra chạy vô kiếm tìm, lục lọi xem trong bếp, trong tủ có gì hay mang ra đãi bạn bè. Bạn văn tụ tập quán nhỏ ven đường, câu thường được nghe là "lát Tiến Thanh sẽ đến". Tiến Thanh lịch lãm mà không bóng bảy, từng trải lại phảng phất chút trẻ thơ (tôi hay đùa anh là "sát thủ mang gương mặt trẻ thơ"). Và, khi thần lưu linh và nghệ thuật nhập hồn, anh thường phiêu diêu với Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng…, đưa bè bạn trở về khung trời hoa mộng ngày xưa…

"Chiều không tên như vết mực giữa đời" và "Loạn bút hành" của Nguyễn Tiến Thanh tuy mang những nét riêng về chủ ý, suy tưởng và phong cách, song vẫn có thể nhận ra những mẫu số chung, cái làm nên một Nguyễn Tiến Thanh tài tử và tài hoa, như ta biết.

Thực tiễn cho thấy, bằng phương pháp phân tích nội quan, hoàn toàn có thể tách việc thẩm bình thơ ra khỏi con người tiểu sử nhà thơ. Bằng chứng ở đây là, chỉ qua phương pháp thống kê cơ học, có thể nhận thấy mảng từ vựng trong thơ Nguyễn Tiến Thanh chạm ngay và chạm sâu vào ký ức: "đi giữa những cơn mơ", "đi qua mùa nhớ", "bụi đời dĩ vãng", "giấc cô miên"… "Chiều không tên như vết mực giữa đời" là những xúc cảm lãng mạn, tinh khôi, phảng phất buồn của chàng trai mới lớn, kiêu ngạo, bất cần, bụi bặm, và thêm chút "mặc cảm thân phận" đặc trưng của nam nhi thời ấy, dĩ nhiên rồi: "Ta nghèo may túi ba gang/ Đựng dăm mộng ước, vài trang thơ tình/ Nghe lòng nắng chếch mưa xiêu/ Hoang vu gió thổi nghiêng chiều, vắng em" (Lục bát tuổi trăng tròn).

"Chiều không tên như vết mực giữa đời" là một không gian thơ đầy huyễn mộng xen lẫn những "vụng dại" của tuổi hoa niên nay chỉ còn trong niềm nhớ. Không phải ngẫu nhiên, khi in thơ, Tiến Thanh giữ nguyên bút tích của ngày xưa. Anh thậm chí chụp in kèm cả những bài thơ chép sổ. Như một kỷ niệm, một niềm tín mộ, một nâng niu. Bởi nó đúng là khuôn hình, bản ngã, xúc cảm của anh, và rộng hơn, của thời anh sống: "Chiều không tên như vết mực giữa đời/ Em ngắt nắng xem hoàng hôn rớm máu/ Cơn đau ấy - anh xin - đừng ẩn náu/ Mưa một mùa nước mắt mấy mươi năm" (Điều đó dĩ nhiên rồi).

Đọc Nguyễn Tiến Thanh, thấy ngôn ngữ thơ anh không chỉ được cảm nhận bằng thanh âm vật lý, mà bằng cả thị giác và tưởng tượng. Các danh từ, tính từ chỉ màu sắc hình họa, cảm xúc ("trắng", "bạc", "tím", "tím biếc chân trời", "heo may", "hoang vu", "vai gầy", "áo em mỏng", "ngọn cỏ mùa thu", "bạc đầu"...), từ ngữ chuyển đổi cảm giác thường xuyên được ưu tiên ("mùa mây trắng", "trắng bàn tay", "thương nhớ cũ","hoàng hôn rớm máu"...). Và cứ thế, như một hiện thể đặc trưng của "những ngày tháng ấy", thơ Nguyễn Tiến Thanh đi theo chiều lãng mạn, mộng mơ, lãng đãng sương khói thời gian.

Không gian thơ Nguyễn Tiến Thanh thường xuất hiện hình ảnh một khách bộ hành cô độc trong cuộc miên di. Các cụm động từ như "khất thực", "hành khất", "đi qua mùa mây trắng", "đi qua phố buồn tênh"... cùng mô típ "chỉ thấy", "thì ta" xuất hiện nhiều lần cho thấy hình tượng tác giả trong thơ Tiến Thanh là kẻ lãng du luôn khao khát kiếm tìm và mong cầu chút ấm áp của những tháng năm xưa. Chút cô đơn, thất tình, lãng mạn của chàng thi sĩ trẻ như tiếng vọng ngân vang từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, Hoàng Nhuận Cầm…, có chăng, thì cũng không lạ, bởi nó cũng như tiếng vọng của người thơ trong thơ mới lãng mạn, nhạc tiền chiến, trong những bài bô-lê-rô hay trữ tình buồn: "Giờ còn gì trong ngôi nhà mùa thu/ Em đi vắng ta thì không đến kịp/ Quả đất rộng - tha hồ em cứ khóc/ Ngôi nhà mùa thu khép cửa lâu rồi" (Ngôi nhà mùa thu).

anhsachchieukhongten.jpg -0
Bìa cuốn “Chiều không tên như vết mực giữa đời” của Nguyễn Tiến Thanh.

Trong cái mẫu số thơ đặc trưng của một thời, có lẽ, cái riêng của Nguyễn Tiến Thanh bắt đầu từ chất lãng tử, phiêu ngạo riêng có của anh. Cũng không phải ngẫu nhiên, kiểu chủ thể trữ tình được ưa chuộng nhất trong thơ Tiến Thanh thời trẻ là chàng trai kiêu bạt, bụi đời lãng tử, cô đơn, đây đó thoáng chút bóng hình của chủ nghĩa hư vô: "Tôi đi hoài chỉ thấy đớn đau thôi/ Tôi đi hoài chỉ thấy đích xa xôi/ Đời vãi muối vào lòng tôi rách nát" (Chặng đường tuổi 20)…

Nguyễn Tiến Thanh lớn lên ở thời đói khổ nhưng mơ mộng. Chủ thể trữ tình trong thơ anh, do thế, đến mãi sau này vẫn thảng thốt hằng đêm viễn mộng: "Anh mất ngủ, ngàn đêm phiêu bạt/ Uống cô miên, khất thực mưa phùn" (Quỳnh hương); "Anh đi qua mùa mây trắng/ Gặp ngày tháng cũ bỏ quên" (Lữ hành).

Điều ngạc nhiên là, xen cài với những bài tình đầu, Nguyễn Tiến Thanh đã có những xúc cảm trữ tình thế sự già dặn: "Bạn ở xa cây cũng gọi phong ba/ Biết mây trắng phía kia là Tổ quốc/ Con sóng vỗ một niềm tin thao thức/ Giọt máu loang trên cột mốc chủ quyền" (Gửi Trường Sa); hay cảm thức chạm đến trái tim về mẹ, một đối tượng trữ tình vừa phổ quát, vừa rất đỗi riêng tư: "Sẽ chẳng bao giờ ai hiểu hết được đâu/ Giọt nước mắt mẹ rơi giữa ngày chiến thắng/ Mây đã trắng khăn tang chồng chết trận/ Trăm cuộc đời chung một hướng vọng phu" (Sân ga chiều đừng mưa)…

Nếu không gian thơ Nguyễn Tiến Thanh trong "Chiều không tên như vết mực giữa đời" là chàng trai đa cảm, trong sáng, pha chút khói sương lãng mạn thì trong "Loạn bút hành", thi sĩ tập trung thể hiện hình tượng người lữ thứ và cuộc hành hương tâm hồn. "Loạn bút hành", do thế, vừa siêu thực, vừa phảng phất tiếng xưa với "Thương hà", "điêu linh", "ly biệt", "đoạn trường", "chí lớn", "tráng sĩ", "người ra đi"…Trong "Loạn bút hành", hình tượng chủ thể trữ tình là trang nam tử lãng du, phiêu ngạo, "đầu trần đi giữa nắng nhân gian". Mô típ "ta vốn", "ta chẳng" thoạt nghe tưởng bất cần, song, thực tình "ta" đã gục ngã vì em, hiện nguyên hình là kẻ lụy tình: "Tráng sĩ một đi, ta ngoảnh lại/ Môi chiều/ Tóc mộng/ Mắt sơn khê".

Đọc Nguyễn Tiến Thanh, bên cạnh trạng thái "đi" gắn với cuộc di trú tâm hồn, còn xuất hiện trạng thái "ngồi" gắn với những suy niệm thế nhân. Với Nguyễn Tiến Thanh, thơ không đủ làm cho gương mặt thi nhân trở nên nhàu nát, song vẫn có một khoảng trống mênh mông trong "thế giới hoang vu": "Để chiều nay chốn cũ ta ngồi/ Nghe hoang mang một mùa trong tiền kiếp" (Chốn cũ).

Có điều đặc biệt là, trong "Loạn bút hành", bên cái tôi trữ tình giàu chất thế sự, và ngay cả khi "những cuống rạ cảm xúc bị cắt sát gốc", thơ Nguyễn Tiến Thanh vẫn nổi lên hình tượng chàng lãng tử "tóc giang hồ bay theo lá du cư", phiêu bạt trên miền xa thẳm với cỏ hoang lối cũ, cô miên, niệm khúc, quán nửa khuya: "Mưa nắng trĩu vai, bụi đời du tử/ Anh hoang vu như gió hoang đàng" (Chiều thật buồn riêng của anh thôi); "Môi siêu thực, mắt đa chiều/ Ném hư vô nhớ vào phiêu lãng trời/ Trăng lơ mơ, gió bụi đời/ Cùng đêm và gã dở người làm thơ"  (Ném hư vô nhớ vào phiêu lãng trời)...

Sau bốn năm đèn sách, nhân dạng ông đồ ít nhiều tĩnh tại đã không thắng được con người lãng tử ưa phiêu bạt, Nguyễn Tiến Thanh rời vị trí giảng viên tổng hợp văn khoa chuyển sang làm báo, một công việc phiêu lưu, nhiều áp lực, mạo hiểm nhưng cũng có nỗi vui riêng. Đi qua những cánh đồng đầy gió, đi qua mùa mây trắng thuở hoa niên, cũng là lúc thi nhân nhìn ra sợi xanh sợi bạc, thấy hun hút một niềm tiếc nhớ khôn khuây: "Tháng Ba xa hút hồng hoang tuổi/ Năm mươi ngồi đợi tóc phai đời/ Nếu xưa mây trắng đừng bay vội/ Tôi đã bây giờ thôi nhớ … tôi" (Ngũ thập). Chiếc nhiệt kế của tâm trạng, theo thời gian càng thấm đượm cảm thức buồn vui thế cuộc, "chênh vênh vực thẳm nhân sinh": "Quá nửa đời lạc lối/ Mơ những chuyện hoang đường/ Ngoảnh về - hoang vu tuổi/ Tóc vương đầy bão giông" (Tự thú).

Nguyễn Tiến Thanh yêu thơ song không chăm chú về thể cách kỹ thuật trong thơ. Anh viết phóng khoáng, tự nhiên, theo dòng cảm xúc. Trong tổng số gần 60 bài thơ đã in có 11 bài lục bát, 3 bài năm chữ, 6 bài tám chữ, một vài bài thơ văn xuôi, còn lại là sự xen cài pha trộn linh hoạt của kiểu thơ 7-8-9 chữ tự do, khoáng đạt. Trên nền cảnh trục ngữ đoạn phổ biến, trục kết hợp của Nguyễn Tiến Thanh rất phong phú, làm thành nét độc đáo tài hoa của riêng anh. Bên những "miên trầm", "cô miên, "trầm miên", "bảng lảng mây", "mịt mù mưa", "dằng dặc bão", thi sĩ không ngần ngại chen lấn những khẩu ngữ hiện đại rất thú vị, góp phần mang lại màu sắc mới cho thơ: "Vãi lều chưa - một tiếng đàn"; "Anh sợ vãi những chiều xa lặng lẽ"...

Thực tiễn cho thấy, mỗi hình thái, thể dạng thơ có khả năng thu hút và làm sinh thành một kiểu bạn đọc riêng. Thơ Nguyễn Tiến Thanh cũng vậy. Đó trước hết là kiểu thơ dành cho những người lãng mạn, yêu kỷ niệm, yêu những ngày tháng cũ. Tiến Thanh say mà tỉnh. Chất lãng mạn, lãng du không khiến những suy tư nhân thế và trách nhiệm công dân của anh khuất lấp. Nhưng Tiến Thanh cũng tỉnh mà say. Bởi có lẽ, thơ mãi mãi là chân trời huyễn mộng để anh được sống tận cùng với “bản lai diện mục” của mình. Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn Tiến Thanh thường tập hợp bạn bè, hoặc tham gia các cuộc tụ tập văn chương để vượt thoát khỏi những mỏi mệt xác thân, để được chơi và chơi cùng với những tài hoa trong miền phiêu lãng.

Phùng Gia Thế

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).