Nguyễn Minh Khiêm, độc thoại với hoàng hôn

1. Nguyễn Minh Khiêm, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện sinh sống và viết tại Thanh Hóa, cho tôi cảm giác gần gũi. Ông có nét thanh tao, lịch lãm,  chiết trung của một học giả... Tất cả hạnh ngộ trong con người ông đến độ chưng cất giản dị.

Sau này, tôi biết, anh em nhà văn, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa nói riêng và văn nghệ sỹ xứ Thanh rất mực tôn trọng nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm.

Thuở mới bước vào “làng văn”, Nguyễn Minh Khiêm viết văn, từng xuất bản “Sư tử làm chúa” (NXB Thanh Hóa 1989), “Tiếng gầm” (NXB Thanh Hóa 1991), sau này “chung thân” với thơ. Trong “gia tài” văn chương gồm 22 tác phẩm cho đến hiện tại, ông đã có 5 trường ca. Viết văn đích đến phải là tiểu thuyết, âm nhạc đích đến phải là giao hưởng, khí nhạc, làm thơ đích đến phải là trường ca. Nó phản chiếu năng lượng nội sinh của cảm xúc.

Nguyễn Minh Khiêm độc thoại với hoàng hôn -0

Nguyễn Minh Khiêm từng nhận được 31 giải thưởng tác phẩm văn chương khác nhau. Anh em văn nghệ sỹ Thanh Hóa vẫn gọi ông là “quán quân” giải thưởng. Ở tác phẩm mới nhất là “Lốc biển” – trường ca, giải thưởng của ông kín cả hai mặt bìa gấp. Tôi để ý thấy nhiều giải danh giá như giải Nhất thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội (2016 - 2017), Giải thưởng cuộc thi thơ lục bát Báo Văn Nghệ (năm 2010); 5 lần giải thưởng Lê Thánh Tông của tỉnh Thanh Hóa, trong đó có Giải A năm 2018 cho trường ca “Ba mươi tháng tư”; và các tạp chí có “tiếng tăm” như Sông Hương, Văn nghệ Thái Nguyên...

Nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá: “Nguyễn Minh Khiêm là nhà thơ có nhiều thành tựu, đặc biệt là mảng viết cho thiếu nhi và đề tài hậu chiến”. Phải công nhận, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm là người “nặng nợ” với đề tài hậu chiến. Hơn ai hết, ông là người trong cuộc. Những năm tháng chiến tranh khốc liệt, ông đứng giữa sự sống và cái chết. Nhà thơ Lê Tuấn Lộc, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam cho rằng, với Nguyễn Minh Khiêm, viết về đề tài hậu chiến là sự trả ơn, trả nghĩa. Trường ca “Lốc biển” là minh chứng mới nhất về nhận định ấy.

2. “Lốc biển” gồm 6 chương, “Lạch đêm”, “Khúc dô tá dô tà trên biển”, “Giao thừa”, “Vượt vời”, “Thuyền mới”, “Độc thoại với hoàng hôn”. Đọc “Lốc biển”, tôi nhớ đến tác phẩm “Khúc tráng ca trên biển” – ký văn học của nhà văn Chu Lai, “Thức với biển” – trường ca của nhà thơ Nguyễn Đình Tâm... Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, sông, biển Việt Nam có nhiều “tráng ca” đã, đang và tiếp tục là cảm hứng sáng tác của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ. Mỗi nhà văn, nhà thơ có cách tiếp cận, quán chiếu khác nhau.

“Lốc biển” là tráng ca nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm viết về đoàn thuyền nan chống Mỹ cứu nước, một sáng tạo riêng của Thanh Hóa có tên “Đoàn vận tải Lam Sơn Thanh Hóa”. Đó là những năm tháng “Những chiếc thuyền nan từ trong lốc biển/ viết sử thi bi tráng một con đường” (trang 51).

Ngày 5/8/1964, sau khi dựng lên cái gọi là "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", đánh lừa dư luận nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ, đế quốc Mỹ ngang nhiên dùng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Từ 8/2/1965, máy bay Mỹ bắt đầu "leo thang" đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào, chủ yếu là đánh phá mạng lưới giao thông vận tải.

“Đất nước chỗ nào cũng gọi túi bom/ chỗ nào cũng gọi nút cổ chai, yết hầu, điểm chết/ Mỹ đánh dấu trên bản đồ chiến sự/ bao nhiêu nút cổ chai/ bao nhiêu điểm chết” (trang 26) và “Mọi con đường/ mọi cây cầu/ từ Trường Sơn tới biển/ Mỹ lùng sục trút bom” (trang 27). Ngoài biển, các cửa sông là ngư lôi, từ trường hòng “khóa chặt” mọi ngả đường.

Giao thông vận tải thực sự là một mặt trận, bảo đảm giao thông vận tải, chi viện cho chiến trường trở thành nhiệm vụ số một. Những năm tháng “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, khẩu hiệu trên mặt trận bảo đảm giao thông vận tải là "Gãy cầu như gãy xương, đứt đường như đứt ruột". "Sống bám cầu bám đường, chết kiên cường dũng cảm". "Đơn vị là quê hương, cầu đường là trận địa", “Địch phá ta cứ đi”...

Nguyễn Minh Khiêm độc thoại với hoàng hôn -0
Tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm.

Tiền tuyến gọi, miền Bắc nói chung và Thanh Hóa nói riêng trả lời. Tháng 10/1965, 800 thuyền nan của Thanh Hoá thuộc "Công ty Thuyền nan chống Mỹ" ra quân vận chuyển dọc tuyến lửa kênh đào Nhà Lê. Sau đó số lượng thuyền nan được bổ sung tới 3.000 chiếc, hoạt động con thoi trên tuyến. Mùa thu 1968, “Công ty Thuyền nan chống Mỹ” được điều động vào nam Khu IV. “Mấy nghìn con thuyền ém dọc bờ sông/ Chờ trăng lên xuất phát” (trang 6). Lúc này, đơn vị mang tên Đoàn vận tải Lam Sơn Thanh Hóa.

Do mức độ đánh phá của địch quá ác liệt, nhất là mặt trận Hà Tĩnh, Đoàn vận tải Lam Sơn với hơn trăm thuyền gần 400 thủy thủ quyết định ra đi từ Cửa Hội (Nghệ An), vượt biển vào tận cảng Gianh và Nhật Lệ (Quảng Bình) để chuyển tải hàng hoá phục vụ tiền tuyến. Từ đó, Đoàn thuyền nan chống Mỹ từ Đồng Hới theo sông Lệ Thủy ngược lên Thác Tre tạo chân hàng cho xe thồ Thanh Hóa tiếp tục vận chuyển chi viện cho mặt trận Quảng Trị, Thừa Thiên... “Thuyền là nhà/ thuyền là công sự/ thuyền là nơi tuổi trẻ ngẩng cao đầu” (trang 16). Thuyền viên của Đoàn vận tải Lam Sơn có cả nam, cả nữ. Họ thực sự là những chiến binh, gần 150 người đã ngã xuống trên đường vào mặt trận khi bom Mỹ vãi trúng đội hình. “Nồng nặc thuốc bom/ nồng nặc máu/ không một ai dám bấm ngón tay/ không một ai dám nhìn dòng nước” (trang 100).

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng những năm tháng đó, có lẽ khó có bút mực nào nói hết. “Bom đạn kẻ thù tìm mọi cách hất chúng tôi lùi lại phía sau/ chúng tôi hất bom để tiến lên phía trước” (trang 21); “Đó là cách làm chủ con đường/ Đó là cách chúng tôi về tới đích” (trang 22).

...

Đoàn chúng tôi đang ở trong lốc biển

Bom Mỹ từ bốn phía bủa vây

Không có dấu hiệu điểm dừng khốc liệt

Những năm tháng đó, không chỉ nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm, mà trong lực lượng sáng tác ở Thanh Hóa cố nhà văn Kiều Vượng (Giải thưởng Nhà nước về VHNT), nhà thơ Trịnh Ngọc Dự... là những chiến sỹ Thanh niên xung phong.

Tôi có may mắn là người được tham gia biên soạn lịch sử ngành Giao thông vận tải Việt Nam, Giao thông vận tải các tỉnh Khu 4 (cũ) trọng điểm bị đánh phá những năm tháng chống Mỹ, cứu nước như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và cả Quảng Trị nên đọc “Lốc biển” của nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm, tất cả ùa về cộng hưởng, tạo nên chiều kích cảm xúc khó tả.

3. “Lốc biển” mang đặc điểm chung của trường ca là tính tự sự, nhưng đẫm chất trữ tình. Sự đan cài giữa quá khứ, hiện tại và tương lai thể hiện trong từng chương của trường ca. Nguyễn Minh Khiêm viết thay lời tri ân. Nguyễn Minh Khiêm lý giải nguồn gốc sức mạnh của đất nước, quê hương và từng con người cụ thể, từng chiến binh quả cảm. Đó chính là văn hóa. “Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa anh hùng/ chưa một lần chuyển hướng/ chưa bao giờ sợ hãi kẻ thù/ xuyên qua những túi bom túi đạn/ xuyên qua mọi cái nút cổ chai/ biển vẫn vang những điệu hò sông Mã/ những điệu hò cổ xưa cha ông đi mở đất/ mang âm vang của núi rừng hùng vĩ” (trang 35).

Thanh Hóa, vùng đất đặc biệt, nơi phát tích của người Việt cổ, nơi có truyền thống đánh giặc giữ nước từ thời Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Lợi... “Người Thanh Hóa bước xuống từ đá vọng phu/ người Thanh Hóa bước ra từ hòn Trống Mái/ thành chim Hạc bay lên trên mặt Trống Đồng/ thành Mai An Tiêm mở mang biển đảo” (trang 39).

Khi còn sống, Thanh Hóa là địa phương duy nhất, Bác Hồ đến thăm và làm việc đến 5 lần. Không chỉ đến thời chống Mỹ, cứu nước mà trong 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp, đoàn xe đạp thồ của Thanh Hóa đã nổi tiếng, trong các chiến dịch, nhất là chiến dịch cuối cùng ở Điện Biên Phủ. Chương sử bi hùng của Đoàn Vận tải Lam Sơn là sự tiếp nối, viết tiếp truyền thống quê hương, đất nước.

...

Mang sức mạnh quê Thanh dệt lên mặt biển

Thành niềm tin chiến thắng

Thành hoa văn hát trên mặt trống đồng

Thành hoa văn hát trên đình chùa miếu mạo

Thành quết trầu thơm mẹ gửi vào hông cột

(trang 37)

Chiến tranh đã lùi xa nhưng đó vẫn là một “siêu đề tài” trong văn học nước nhà thời hậu chiến. Với độ lùi thời gian, những thay đổi về văn hóa, xã hội giúp người viết hôm nay lật trở. Nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm thấy “hồn sóng hiện về”, ám ảnh. “Khúc tráng ca trầm tích/ không cuộc tiễn đưa/ không bia tưởng niệm/ một con thuyền cũ/ mảnh vụn cuối cùng độc thoại với hoàng hôn”. Đó là sự chiêm nghiệm chiến tranh từ lăng kính nhân văn, nhân bản gắn với những giá trị phổ quát. “Lốc biển” của Nguyễn Minh Khiêm đẫm suy tư, trăn trở giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

Sông Nghèn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).