Nguyễn Linh Khiếu: Mỗi nhà thơ mang đến một khuôn mặt riêng

Nhà thơ, Tiến sĩ triết học Nguyễn Linh Khiếu sinh năm 1959, quê Mỹ Lộc, Thái Thụy, Thái Bình, đã in 7 tập thơ và một số tập tùy bút, tùy văn. Là một trong những nhà thơ gần đây đã giành toàn bộ sự tìm tòi, thể nghiệm của mình vào lĩnh vực thơ văn xuôi.

Nguyễn Linh Khiếu, từng được trao giải thưởng Thơ Báo Văn nghệ và Tạp chí Văn nghệ quân đội, trong một thập niên qua đã có một số phát hiện, đóng góp đáng ghi nhận về mặt thi pháp học của thơ đương đại. Tôi nhận thấy, anh là một giọng thơ đa thanh và triết giải ở cả hai trường thẩm mỹ của thơ lục bát truyền thống và thơ văn xuôi hiện đại.

Từ "Chùm mơ tiên cảm" đến trường ca "Phồn sinh"

Năm 1991, Nguyễn Linh Khiếu in tập thơ đầu tay "Chùm mơ tiên cảm", cái tên của tập thơ nghe thật khơi gợi khi mang ở trong nó một ngụ ý triết giải nào đó về chùm quả đầu mùa của mình. Tất nhiên, trong "chùm mơ" ấy, có trái còn xanh, có trái vừa chín tới. Hơn 1/3 số bài trong tập viết theo thể lục bát. Hình như tác giả có duyên với thể thơ truyền thống này qua những câu thơ "Phố huyện" đáng yêu kỷ niệm thời học sinh "Em ơi phố huyện quán Chùa/ Cái ngày ta mới tuổi vừa mười lăm/ Em diện áo trắng quần thâm/ Anh thùng thình áo quần dầm nước nâu/ Chúng mình đã biết yêu đâu/ Mới là thinh thích cùng nhau học bài".

Thế rồi, mối tình thuở học trò nhớ mong thầm vụng làm cô, cậu xao nhãng bài vở để rồi: "Thầy nhìn ta cứ thở dài/ Thông minh là thế phí hoài cả đôi". Vốn là người nghiên cứu triết học, nhưng bạn đọc không thấy trong thơ anh sự căng néo, gân guốc của ý tưởng và thay vào đó là sự tinh tế của hình ảnh và những liên tưởng: "Tiếng thông reo ngỡ tiếng cờ/ Tưởng chừng gươm giáo bất ngờ dựng lên/ Bất ngờ tướng sĩ cung tên/ Trời ơi! Trận mạc triền miên kiếp người". Ngay cả khi anh triết luận thì giọng thơ trữ tình vẫn hồn hậu mà đa cảm, vẫn hóm hỉnh mà rõ nét suy tư: "Hình như là những gì trên cát/ Sẽ lún chìm xuống dưới cát thôi/ Hình như là những gì trên nước/ Sẽ cùng sóng vỗ lên rạo rực chân trời".

2 nhà thơ nguyễn linh khiếu (trái ) và nguyễn việt chiến tại một cuộc hội thảo văn học.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu (ảnh trên) và nhà thơ Nguyễn Việt Chiến tại một hội thảo văn học.

Không chỉ dừng ở thành tựu ban đầu đó, trong 12 năm liên tục (từ 2002-2014), Nguyễn Linh Khiếu đã lặng lẽ viết trường ca văn xuôi "Phồn sinh", rồi đổ bộ vào nền thơ đường đại như một "hàng-không-mẫu-hạm thơ" với tập thơ do NXB Hội Nhà văn ấn hành, dày hơn 700 trang in gồm 150 chương, với 136.369 chữ và gần 13.000 đơn vị câu thơ có độ dài kỷ lục, được ghi nhận bởi Kỷ lục Guiness Việt Nam.

Đây là một trường ca đặc biệt về mặt hình thức, 712 trang thơ văn xuôi (trang nào cũng dày đặc chữ như một trang tiểu thuyết), không hề có bất cứ một dấu chấm, dấu phẩy, dấu cảm thán, dấu hỏi... nào, mặc dù có những câu thơ dài đến 1.716 chữ. Trường ca "Phồn sinh" của anh là một bản giao hưởng nhiều tầng, nhiều lớp, đa dạng và phong phú với các dòng chảy của sử học, triết học, mỹ học, của cả thi học và nhân học... trên cái xứ sở phồn sinh của nền văn minh lúa nước dọc châu thổ sông Hồng cùng với những biến thiên của lịch sử.

Đọc Nguyễn Linh Khiếu qua mấy tập thơ sau này như "Sa hồng", "Hoa linh thảo" và trường ca "Phồn sinh", đôi khi ta ngỡ ngàng về một miền châu thổ lúa nước tràn trề sức sống với những khúc hoan ca phồn sinh còn thẫm đẫm hơi thở của mùa màng và vạn vật. Nhà thơ tụng ca vẻ phồn thực của đất đai, sông bể và tụng ca những điều bí ẩn thiêng liêng đã nâng đỡ con người và sự sống trên thế gian này trong bài thơ "Phù sa sông Hồng": "Những sớm mai trên bờ bãi sông Hồng/ chập chờn trong sương tiếng sột soạt/ ngô dậy thì thẹn thùng thay xiêm áo/ nây nẩy những bắp non tươi ẩn hiện/ mùa nước sinh đang hổn hển trở về/ phù sa non đầm đìa tươi mê/ lộng lẫy chảy như đàn bò cái đang mùa động đực/ tiếng gọi thống thiết ở miền lúa nước/ những cánh đồng hôn phối bồn chồn lưu vực dòng sông/ phù sa non rạo rực khuấy động mọi u mê cỗi cằn/ bầy ếch nhái ộp oạp cõng nhau vào mùa ân ái/ những đám mây trứng cá trứng tôm rực rỡ bồng bềnh bay lượn/ các nàng lúa nước ngây ngất thụ thai/ trong vòng tay phù sa nóng hổi/ khanh khách nước cười màu mỡ phồn sinh/ châu thổ náo động nhịp điệu truyền giống thiêng liêng/ thế hệ mới đang hun đúc đang hân hoan/ dạt dào bờ bến mới/ lộng lẫy phù sa căng tròn và hùng dũng như đàn bò cái/ trườn lên trườn lên tươi rói và hổn hển...".

Những câu thơ ngồn ngộn sức sống châu thổ

Trong nhiều bài thơ tự do của mình, Nguyễn Linh Khiếu thường có một kết thúc mở, bài thơ đã đi đến câu cuối nhưng mạch thơ không chịu đóng (hay không chịu "kết"). Và, dường như còn một âm vang gì đó ở phía sau bài thơ mà chúng ta chưa nhận ra, chưa thấy hết và chưa nghe thấy được. Đây có thể là một tìm tòi mới, khiến bài thơ đầy ắp sức sống phồn sinh của anh nối dài được dư âm thơ trong tâm tưởng người đọc như một dòng chảy nhịp điệu sống động. Trong những bài thơ như vậy của Nguyễn Linh Khiếu, tôi có cảm giác sức liên tưởng của nhà thơ được huy động tối đa vào công việc khắc họa và miêu tả, với tính khái quát của tư duy hình tượng, nó có sức gợi mở chiều sâu của ngôn từ.

Nguyễn Linh Khiếu ở một số bài thơ khác đã cất công, tạo dựng tứ thơ một cách chặt chẽ hơn, tiết chế cảm xúc một cách minh xác hơn và không để cho phần "thực tả" lấn át phần "hồn vía" của câu chữ như bài thơ "Những nàng chuột đồng" sau đây: "Trong giấc ngủ ta gặp tiếng rinh rích hân hoan/ của các nàng chuột đồng/ có phải mùa xuân đang về trên đất đai phồn thực/ những lông mượt mịn màng óng tơ thơm tho/ chủ nhân của mùa màng dư dả/ đám cưới khởi hành giờ Tý lùng tùng kiệu rước/ các nàng bước vào ngày mồng Một đầu năm/ những nàng chuột đồng kiêu sa lộng lẫy xiêm y/ và súng sính nữ trang/ bao giờ cũng tươi roi rói láu lỉnh và thoăn thoắt gợi cảm/ hoa hậu của đồng quê linh hồn/ của những đêm thiêng hội hè đình đám bí hiểm/ các nàng luôn chứng tỏ tràn trề sinh lực/ bằng sự mắn đẻ mê hoặc của mình/ vương quốc của các nàng là châu thổ nồng nàn với những cánh đồng phì nhiêu phóng khoáng/ và nhân hậu quanh năm bộn bề gặt hái/ nơi lũ trẻ nhà quê suốt tuổi thơ nghe đất đai/ vỗ về và dạy dỗ bài ca hòa thuận/ có phải mùa xuân đã về rồi không/ nghe tưng bừng giai điệu cưới xin từ phía những cánh đồng/ ta xin diện áo the khăn xếp cùng mọi sinh linh nhập vào/ đoàn rước lùng tùng đưa các nàng vào ngày mồng Một đầu xuân".

Bài thơ văn xuôi trên gợi cho ta về một ý tưởng lạ trong bức tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng với "đám cưới chuột" vào những mùa xuân cách đây nhiều thế kỷ, đã phần nào nói lên sự phồn sinh lâu bền trong đời sống văn hóa dân tộc. Nguyễn Linh Khiếu là vậy, anh đang kiên trì một hướng đi mới, với những câu thơ văn xuôi ngồn ngộn sức sống phồn sinh về các vùng đất quê hương còn tươi rói những mùa gặt hái và đầy ắp kỷ niệm thời niên thiếu của mỗi chúng ta.

Không như những trường ca truyền thống, "Phồn sinh" khá đặc biệt về hình thức bởi nó được viết phỏng theo mô thức dòng chảy tuôn trào của sông Hồng mùa lũ. Đây là một văn bản tích hợp, trong đó có cả thơ, văn xuôi và triết học. Cách xử lý kết cấu hiện đại, tiếp cận vấn đề và sự kiện mang tính phức hợp cùng với tư tưởng thẩm mỹ phi truyền thống của tác giả là nhất quán, xuyên suốt trường ca.

Suy nghĩ về nghề văn, Nguyễn Linh Khiếu cho rằng: "Thơ là sự giải phóng năng lượng cá nhân của nhà thơ. Nhà thơ vẽ chân dung của mình bằng thơ. Qua thơ sở dĩ người đọc thấy được chân dung thời đại, dân tộc, con người và văn hóa là vì chúng được phản ánh một cách tuyệt vời và trung thực trong chân dung nhà thơ".

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí về thi ca, nhà thơ Nguyễn Linh Khiếu cho rằng: "Thực ra, trong quá trình sáng tác, các nhà thơ đều đồng thời sáng tác các thể loại một cách đan xen do nhu cầu nội tại và cảm hứng sáng tác quy định. Có điều, ở trường ca thường tích hợp trong đó các thể thơ, thậm chí có cả văn xuôi. Trường ca đối với người làm thơ cũng giống như tiểu thuyết đối với người viết văn xuôi. Chỉ với trường ca, nhà thơ mới hiện nguyên hình chân dung văn chương của mình. Các tác phẩm văn chương của tôi bằng cách này hay cách khác đều thấm nhuần triết học phồn sinh. Tư duy thơ và tư duy triết học là hai dạng tư duy có vẻ hoàn toàn khác nhau. Khác nhau nhưng cơ bản đều phát lộ từ tiềm thức, từ vô thức cộng đồng ẩn trú trong mỗi chúng ta. Nó là hai nhưng thực ra lại chỉ là một. Vâng, chỉ từ một chủ thể sáng tạo. Tri thức mà tôi học hỏi, tiếp nhận được đa phần là tri thức triết học, tôn giáo, khoa học. Có thể nó đã đánh thức những năng lượng tương đồng ấy trong tôi thức dậy...".

Nguyễn Linh Khiếu là như vậy khi anh luôn xác định: "Mỗi nhà thơ mang đến cho văn chương một khuôn mặt riêng, một khuôn mặt văn chương duy nhất. Nó thực sự đặc sắc cả về ngôn ngữ, nhịp điệu, kết cấu, tư tưởng, văn bản và lý tưởng thẩm mỹ. Nhà thơ không chỉ trò chuyện với thời đại mình, mà hơn thế, họ còn phải trò chuyện với những thời đại mai sau".

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).