Đọc "Tuyển tập thơ Nguyễn Đức Mậu", NXB Hội Nhà văn, năm 2023

Nguyễn Đức Mậu, một đời tử tế và muôn thuở thơ hay

Đọc "Tuyển tập thơ Nguyễn Đức Mậu", tôi có cảm giác như là đang đọc một tổng tập tổng kết về chiến tranh bằng thơ, và những nỗi niềm day trở về những thế phận người của một người lính sau thời trận mạc.

Không chỉ đồ sộ và hoành tráng về dung lượng và chất lượng tác phẩm, mà Tuyển tập gồm hơn 500 trang in này đã gửi đến chúng ta rất nhiều thông điệp, trong đó có cả những cảnh báo, cảnh tỉnh về chiến tranh, hậu quả của chiến tranh và trận mạc lòng người sau tiếng súng ở đâu đó hôm nay.

Là một người lính từng xông pha nơi trận mạc, trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận nên thơ ông là thơ của một người trong cuộc. Ông viết bằng máu và nước mắt. Viết thay cho bao bạn bè, đồng chí đã ngã xuống giữa chiến hào ngay bên cạnh ông. Vì thế mà nó rất chân thực, đau đớn và cảm động.

Nguyễn Đức Mậu, một đời tử tế và muôn thuở thơ hay -0
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Tôi đã thuộc rất nhiều bài thơ của ông, nhưng khi được đọc cả tuyển tập này mới biết, mình chưa biết gì nhiều về Nguyễn Đức Mậu. Có lẽ chính vì vậy mà tôi dừng lại khá lâu ở từng bài, đọc kỹ từng bài của ông. Và tôi dám cam đoan là, ít có nhà thơ nước Việt nào viết về chiến tranh cảm động và hay như ông.

Đọc ông nhiều lúc, tôi có cảm tưởng, chiến sự đang diễn ra trước mắt. Nhưng không vì thế mà bi ai?! Bởi đằng sau những câu chữ như nước mắt, Nguyễn Đức Mậu vẫn mang đến cho chúng ta một niềm an ủi. Thơ ông là chỗ dựa cho nhiều "bấu víu" xung quanh. Ông "hướng thiện" cho cả kẻ thù bằng lòng nhân ái, vị tha, bằng cái bắt tay còn ám đen khói súng, chỉ những mong trở thành sứ giả của tình bằng hữu trong yên bình, hạnh phúc. Là một người tử tế, không màng lợi danh, sống chi chút với đời, có trách nhiệm với gia đình, xã hội nên không ngạc nhiên gì, khi đâu đó đều khen ông, kính trọng ông. Nguyễn Đức Mậu là một nhân cách lớn, tác gia lớn, có tâm thế lớn. Phủ nhận ông là phủ nhận văn học sử nước nhà.

Ông cũng như các thi sĩ tài danh Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo v.v... và bao nhà thơ Việt Nam thời chống Mỹ, bước ra từ cuộc chiến nhưng nỗi niềm gửi gắm trong thơ vẫn như những ngày cầm súng trực tiếp chiến đấu ngoài trận địa vì lẽ phải và công lý. Ông đã vinh dự được nhận giải thưởng Nhà nước. Mừng cho ông cũng là mừng cho cả thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ, các nhà thơ mặc áo lính.

Xin được bắt đầu từ "Nấm mộ và cây trầm". Bài thơ ông viết về người đồng đội có tên Hùng, là bạn ông, là một trong những kiệt tác của thơ nước Việt, viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ của cả dân tộc. Đây có thể xem như là một trường ca đầy hào sảng và bi tráng. Lần nào đọc bài thơ này tôi cũng ứa nước mắt vì cảm động: "Anh trinh sát hy sinh trao lại tấm bản đồ/ Anh xung kích hy sinh phất cao cờ chuẩn/ Xin Hùng hãy trao cho mình khẩu súng/ Trận đánh vẫn còn tiếp diễn, Hùng ơi!...".

Chiến tranh là vậy đó, có đau đớn và khốc liệt nào hơn khi mà: "Cái chết bay ra từ nòng súng quân thù/ Nhận cái chết cho đồng đội sống/ Ngực chặn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng/ Lửa bén vào áo lính tuổi hai mươi".

Chết cho đồng đội sống là một phẩm chất cao đẹp tuyệt vời của Bộ đội Cụ Hồ bất kể thời nào. Còn để sống xứng đáng với người đã khuất là cả một vấn đề, mà Nguyễn Đức Mậu ngay lúc Hùng ngã xuống đã không quên nhắc nhở: "Thôi mình đi Hùng nhé! Hãy yên nằm/ Trận đánh đêm nay vắng Hùng cài bộc phá/ Trận đánh trường kỳ vắng Hùng tham dự/ Trận đánh cuối cùng chiến thắng phải về ta".

Lạc quan của người lính. Nguyễn Đức Mậu đã tiếp lửa cho bao đồng đội. Khi chiến thắng đã về ta, đất nước đã đoàn viên, thống nhất, Nguyễn Đức Mậu vẫn chung thủy với màu áo lính. Cây bút thay cây súng, ông vẫn là một người lính tiên phong trên mặt trận văn hóa, tư tưởng của Đảng.

Và ngôi số nhà số 4, Lý Nam Đế, trụ sở thứ hai của Hội Nhà văn Việt Nam là "mặt trận" mới của ông. Bao năm làm biên tập, rồi là Trưởng ban thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông luôn coi nơi đây như là tổ ấm thứ hai của mình.

Cảm động cũng như "Nấm mộ và cây trầm" khi ông viết về cây đại già trước cổng cơ quan: "Nắng mưa nhiều thế cây ơi/ Có bao người anh đã khuất/ Gia tài còn dăm quyển sách/ Gốc cây trống vắng bóng người".

Hiu hắt một nỗi buồn. Buồn cũng như ngày ông về hưu, rời Tạp chí: "Những điều cây còn giữ được/ Vô tình người viết bỏ rơi/ Không lẽ lòng mình tẻ nhạt/ Với bao tai biến cuộc đời?".

Thức ngộ và cảnh tỉnh này cũng là nỗi niềm của bao người lính trở lại chiến trường xưa, để tìm mình, tìm đồng đội: "Mình bỏ lại bàn chân nơi điểm chốt/ Ngôi mộ bạn vô danh như đất/ Bàn chân mình hóa thạch ai hay/ Nhiều khi vẩn vơ nhìn đôi nạng gỗ/ Gặp một con đường Trường Sơn mây bay".

Chút an ủi ấy cũng đã đủ để ấm lòng khi mà: "Nhìn khuôn mặt bạn bè/ Cháy một vùng gió nắng/ Nghe giọng nói bạn bè/ Cháy một nỗi thương nhau/ Giọng nói khô rang lẫn gió cát bay vào/ Vành mũ lính có hai vành mưa nắng/ Mắt đăm đăm nhìn con đường bụi cuốn/ Nhớ se lòng một bóng người qua".

Bắc Lào và Nguyễn Đức Mậu trong những ngày đến với đoàn quân tình nguyện đấy. Còn đây là đường số 9: "Tôi đào hầm dưới đám cháy rừng lau/ Thương cây cháy đến cái mầm đương ủ/ Thương đất cháy đến sắc màu hóa đá/ Lửa vẽ vòng nơi đáy hố bom sâu".

Đọc những câu thơ trên của Nguyễn Đức Mậu, tôi có cảm giác mình như vừa được xem một thước phim quay chậm về đường 9, về Trường Sơn trong những năm chiến tranh ác liệt. Và sự ác liệt này được Nguyễn Đức Mậu khắc họa lại rất đau đớn và khủng khiếp trong "Đêm Thành Cổ năm 1972". Không là người lính quyết tử ở đó không thể biết: "Đêm Thành Cổ ngổn ngang gạch vụn/ Đoạn chiến hào đầy tiếng chuột kêu/ Bầy chuột đói gặm xương người...".

Đọc. Sởn da gà. Và cảm phục, đúng là không ai viết về chiến tranh giỏi như Nguyễn Đức Mậu. Hình như ông và Phạm Tiến Duật đã làm cho cả thế giới biết về chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam nhiều hơn. Thơ của các ông đã góp phần thức tỉnh lương tri của nhân loại. Trong những câu thơ như xé lòng ấy tôi như nghe được nỗi ai oán, bi thương đòi trả thù, nghe được cả những lời hiệu triệu.... Cùng với những câu thơ, bài thơ dữ dội, khắc họa rất thành công chân dung những người lính trong chiến tranh là những thi phẩm viết về thời hậu chiến thăm thẳm một nỗi buồn đầy tiếc thương, ám ảnh.

Giá như đừng có chiến tranh. Nhưng giá như làm sao được? Biết là phải trả giá nhưng phải cầm súng chiến đấu vì kẻ thù đâu có để chúng ta yên. Và muốn yên được, trước hết là lòng người phải không còn trận mạc. Những câu thơ của Nguyễn Đức Mậu viết sau năm 1975 vì thế trầm lắng hơn. Sau bao nhiêu trải nghiệm là rất nhiều chiêm nghiệm, thơ ông như liều thuốc quý chữa trị vết thương, như tiếng chim gọi bầy. Tôi thích cái bâng khuâng da diết này: "Hà Nội chiều nay nắng vừa đủ nắng/ Gió cũng vừa đủ gió để rung cây/ Mặt hồ rộng thực hư làn khói mỏng/ Rượu bạn mời tôi uống cũng vừa say".

Phải là người chân tình, gắn bó với nhau lắm mới uống với nhau như thế, để mà còn đủ tỉnh táo chiều nay, biết đâu Hà Nội gió trở mùa?! Nơi này không có tuổi thơ ông, thời trai trẻ trận mạc không ở đây. Nhưng ở đây bây giờ là nơi ông ở, nơi mà ông cần có những buổi chiều thong thả của riêng ông để nhìn lại: "Nơi tôi ở một số nhà quen thuộc/ Tóc em dài buông xõa xuống mùa thu/ Nhiều lúc khát khoảng trời xóm mạc/ Chiều lá vàng như máu xót của vần thơ".

Rất đau đớn nỗi lòng người xa quê dù giữa Thăng Long ngàn năm văn hiến đang mùa cốm Làng Vòng ngát thơm, có ngôi nhà quen thuộc và mái tóc em như suối buông xõa xuống mùa thu.

Mùa thu Hà Nội đẹp đến nao lòng nên đọc những câu thơ trên của thi sĩ Nguyễn Đức Mậu ta như gặp chính mình trong thương nhớ khôn nguôi khi phải sống ly hương. Những người đang xa xứ, vất vưởng ở góc bể chân trời nào, có lẽ còn buồn, đau hơn cả vậy?!

Vẫn biết "Cô đơn là báu vật của tâm hồn" nhưng giá mà vui lên được thì vẫn hay hơn. Trong ông là bao nhiêu tâm sự, có cảm giác như nước mắt ông đang chảy ngược vào tim: "Có những canh khuya chợt thức/ Nỗi buồn cùng cánh dơi chập choạng bay về/ Tôi cố xua đi nỗi buồn không tan được/ Nỗi buồn len vào cơn mê".

Buồn đến không thể buồn hơn: "Ngày hôm trước viết mười câu thơ/ Ngày hôm sau xóa mười câu đã viết/ Ngày sau nữa trước lam nham bản nháp/ Tìm lại đôi dòng mình xóa bỏ ngày qua".

Sao mà đúng quá, hay quá nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ạ!

Thơ hay không lụy ở đề tài. Truyền thống hay tự do, viết thế nào là tùy ở "tạng" từng người. Chủ đích của ông là thơ phải chở "Đạo", phải có nỗi niềm gì, thông điệp gì gửi gắm.

Từng biên tập nhiều chục năm, lại như là "Thánh thơ", nên trong Nguyễn Đức Mậu có cả tinh hoa của đất Nam Định văn nhân và sự uyên thâm của kẻ sĩ Bắc Hà - Thăng Long - Hà Nội. Thêm nữa, ông lại là người đọc nhiều nên - "kim - cổ - đông - tây" trong ông đều có cả. Làm thơ trên một cái nền văn hóa và tri thức như thế, lại được thiên phú nữa, bảo Nguyễn Đức Mậu không hay sao được khi mà nhiều câu thơ, bài thơ của ông đã đi cùng năm tháng, đã thuộc về muôn thuở.

Hùng Đô, ngày 13/11/2024,
Việt Trì, rằm nguyên tiêu Kỷ Tỵ 2025

Nguyễn Hưng Hải

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).