Nguyễn Du và giấc mơ hái sen trữ tình trong trẻo

"Chiêm bao thấy hái sen" của Tố Như quả là một bài thơ đẹp, một giấc mơ đẹp. Ở đấy, thấy hiện lên cảnh hái sen rất thơ mộng, trong trẻo Tây Hồ. Những hàm ẩn ý tình trong hương hoa, sắc hoa, cả gương sen và thân sen nữa, phong phú, đằm thắm trữ tình và ngổn ngang những triết lý nhân sinh sâu thẳm…

CHIÊM BAO THẤY HÁI SEN

Xắn gọn chiếc quần cánh bướm/ Chèo chiếc thuyền con đi hái sen/ Nước hồ sao mà lai láng thế/ Trong nước thấy có bóng người.

Hái, hái sen Tây Hồ/ Hoa và gương sen đều đưa lên thuyền/ Hoa sen để tặng người mình sợ/ Gương sen để tặng người mình thương.

Sáng nay đi hái sen/ Đã có hẹn với cô gái xóm đông cùng đi/ Chả biết cô ấy có đến hay không/ (Nhưng) bên kia khóm hoa đã nghe thấy tiếng cười nói.

Hoa sen thì ai cũng yêu/ Cọng sen nào có ai thích đâu/ Trong cọng sen có sợi tơ bền/ Vấn vương mãi không dứt.

Lá sen màu xanh xanh/ Hoa sen thật kiều diễm/ Hái hoa chớ làm gẫy ngó sen/ Năm sau sen không mọc nữa!

Một bài thơ ngũ ngôn, gồm 5 khổ thơ bốn câu, tả một giấc mơ được đi hái sen ở hồ Tây (Mộng đắc thái liên). Chỉ là một giấc chiêm bao thôi, có lẽ là hình ảnh từ những năm tháng tươi đẹp của tác giả khi còn trẻ, được thừa hưởng vinh hoa phú quý ở một thế gia quyền quý, rồi một đi không trở lại, kể từ khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc Hà tiêu diệt tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh đã suy tàn, năm 1786.

Quả là một giấc mơ tươi trong, rất hiếm thấy ở các tác phẩm thơ của Nguyễn Du, kể cả thơ chữ Hán và thơ Nôm.

Khổ thứ nhất tả cảnh chung, khái quát, về cảnh hái sen ở Tây Hồ mà chính tác giả là nhân vật trữ tình chủ thể.

Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền con hái sen.

(khẩn thúc giáp điệp quần/ Thái liên trạo tiểu đình)

376373044_207795722101277_5585698021551137670_n.jpg -0
Giấc mơ hái sen - ảnh minh họa.

Đấy là tả người đi hái sen, xắn gọn chiếc quần cánh bướm, chèo chiếc thuyền nhỏ mà lướt nhẹ trên mặt hồ, luồn qua những hoa sen và lá sen. Nhưng ai là người "Xắn gọn quần cánh bướm" ở đây? Thì còn ai nữa, nếu không phải là chính chàng trai trẻ Tố Như ? Ngày xưa con trai nhà khá giả thường mặc quần lụa ống rộng. Đi hái sen thì phải xắn gọn cái quần lên, thấy ống quần xòe ra như cánh bướm. Đấy là một liên tưởng gần gũi. Có người thì bảo rằng "giáp điệp quần" là cái váy của phụ nữ. Nhưng ở đây là chính tác giả, thì chỉ là xắn cái quần lên cho nó gọn gàng mà chèo thuyền đấy thôi…

Hai câu tiếp theo tả "nước hồ đầy lai láng" và xanh trong, "in rõ bóng người đi hái sen". Mấy nét chấm phá về cảnh và người hái sen Tây hồ trong một ngày đẹp trời, thật bình yên, thơ mộng. Có cảnh và có người trong cảnh, nhưng tả người mới chỉ ở vài điểm nhấn, ví như "Giáp điệp quần", tức quần lụa mỏng, tựa như cánh bướm phất phơ và hình bóng người hái sen in dưới mặt nước hồ trong, thanh thoát.

Khổ thơ thứ  hai, tả cụ thể công việc hái sen, đương nhiên có cả mục đích của việc hái sen nữa. Hái hoa sen, và cả gương sen, "cả hoa và gương đều bỏ lên thuyền". Thế thôi, chưa có gì đặc biệt. Những người dân ven hồ Tây, nhiều gia đình lấy việc hái sen (cả hoa và gương) làm kế sinh nhai. Nhưng cũng có những người khá giả, lại lấy việc hái sen chủ yếu để tiêu khiển, như một thú chơi tao nhã. Với tác giả bài thơ này, thì "Hoa để tặng người mình sợ/ Gương để tặng người mình thương" (Hoa dĩ tặng sở úy/ Thục dĩ tặng sở liên).

Hai câu thơ sau thấy chứa nhiều uẩn khúc trong tình ý. Hoa sen trắng hay hoa sen hồng, đều rất đẹp. Hương sen thơm nhẹ, tinh khiết. Đó là một loài hoa quý xưa nay, còn có cái tên rất đẹp là hoa phù dung. Hoa ấy hái về dùng để tặng người mình yêu quý, trân trọng, còn để cắm vào bình hoa trong nhà mình để thưởng lãm, hoặc dâng lên bàn thờ tiên tổ, ấy là lẽ thường. Nếu như hoa sen với sắc hoa và hương quyến rũ, làm biểu tượng cho cái đẹp trang nhã và quý phái, tức biểu tượng của giá trị thẩm mĩ, thì gương sen, trong có hạt sen rất quý, phần nhiều chỉ nghiêng về giá trị vật chất. Nhưng với Tố Như thì "hoa để tặng người mình sợ", còn "gương để tặng người mình thương", thì đã là một sự khác thường rồi! Cũng có người bình giải bài thơ này, đến đây thì bế tắc, không sao đoán định được tình ý sâu kín của tác giả. Một tính cách cang cường như Cao Bá Quát, khi tả hoa sen Tây Hồ, hay hoa sen trong bồn quý của một ông bạn thân, đều gửi gắm ý chí thanh cao ngạo nghễ của mình, rõ ràng, quyết liệt. Còn Nguyễn Du trong trường hợp này thì sao? Ẩn số này, phải chăng có thể liên tưởng đến tính cách của tác giả, thông qua những cứ liệu ở tiểu sử, và đặc biệt là cả ở văn chương nữa?

Tiểu sử cho hay, Nguyễn Du là một trong số 21 người con, cả trai lẫn gái của cụ Nguyễn Nghiễm, một vị quan to ở phủ chúa Trịnh, có tới tám bà vợ. Mẹ Nguyễn Du quê Bắc Ninh, kém chồng tới 32 tuổi. Cha chết, rồi mẹ chết khi Nguyễn Du còn trẻ. Từ đó gia đình Nguyễn Du lưu lạc mười năm gió bụi, Nguyễn Du ăn nhờ ở đậu, thấp thỏm lo âu, buồn bã trong đói nghèo, bệnh tật nơi góc biển bờ sông.

Tây Sơn đổ, Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn (1802), được thăng dần lên đến chức Cai bạ Quảng Bình (1809-1812), rồi lại được thăng tới chức Tham tri bộ Lễ, nhưng hình như không mấy khi được vui vẻ, chủ yếu là do bị quan trên chèn ép. Một số quan lại đương thời, xưa cộng tác với Tây Sơn, hoặc từng làm quan với nhà Lê, thường bị phái công thần triều Nguyễn ganh ghét, tìm cách triệt tiêu. Thế nên Nguyễn Du không thể không lo sợ, cố kín đáo giữ mình, thành ra có lúc bị Gia Long quở trách: "Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người Bắc người Nam. Khanh với Ngô Vị (con Ngô Thì Sĩ) đã được trẫm biết tài mà bổ dụng, làm quan đến chức Tham tri, biết điều gì cứ nói, để làm hết chức trách của mình, sao lại cứ rụt rè, sợ sệt, chỉ dạ dạ vâng vâng thế thôi?". Những sự thật đau lòng như thế, thử hỏi một người như Nguyễn Du, dẫu cho có cái khí phách cang cường chăng nữa, cũng không biết sợ hay sao?

Thơ văn Nguyễn Du, ngay trong tập "Nam trung tạp ngâm" này, cũng không ít bài thể hiện tâm sự buồn chán và lo sợ trước cảnh "Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc" (Những con oanh đẹp trong vườn thượng uyển hay ghen ghét nhau). Ngay như ở "Thanh Hiên thi tập" viết trước đó, tác giả cũng từng viết: "Gặp đời loạn vì muốn giữ toàn sinh mệnh nên luôn luôn sợ người ta" (Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân)… Thế nên "Hoa để tặng người mình sợ" ở bài "Mộng đắc thái liên" này, hẳn có nguyên cớ chi đây! Phải chăng, "người mình sợ" ấy là những kẻ có thế lực đương thời? Tặng hoa, có thể chỉ như một hành vi có tính chất ngoại giao, nhất thời, nôm na chỉ là cái "mẹo" giao đãi, cao hơn một chút là cái "mẹo làm quan", trong những hoàn cảnh nhất định nào đó, như một sự nhún mình, khôn khéo, nhưng mà không phải thực lòng. Danh tướng nhà Hán như Hàn Tín, lúc bĩ cực, cũng còn phải tạm thời chấp nhận chui qua háng kẻ mạnh, chỉ để được tồn tại mà tính kế lâu dài. Người quân tử biết cứng biết mềm, cốt để giữ cái mục tiêu lớn, thế mới thật đáng nể trọng. Nguyễn Du là người có bản lĩnh, biết "nội cương ngoại nhu" chăng?

Cũng không ngoại trừ khả năng này nữa: Với những bậc trí giả, chỉ biết sợ những kẻ tài giỏi, anh hùng trong thiên hạ mà thôi! "Sợ" ở đây không hẳn là sợ hãi, mà phải hiểu theo nghĩa tôn trọng, kính sợ người có tài và nhân cách cao cả hơn đời và hơn mình. Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, liệu còn có những ý tưởng sâu kín nào khác nữa chăng? Còn như gương sen để tặng người mình thương, cũng không mấy khó hiểu. Gương sen, trong có hạt sen quý, nhiều giá trị sử dụng, để tặng người thân thương của mình, vừa chân tình, vừa gần gũi…

Khổ thơ thứ ba, cũng tả cảnh hái sen, nhưng mà ở một chi tiết khác. Thi sĩ sáng nay đi hái sen, vốn đã có hẹn với một cô nàng hàng xóm nào đó, chắc là xinh đẹp trẻ trung. Hẹn rồi đấy, nhưng mà không biết bóng giai nhân ấy đã đến chưa (bất tri lai bất tri)? Chưa thấy người đẹp hiển hiện trước mắt, nhưng "cách hoa nghe cười nói" (cách hoa văn tiếu ngữ), thì hình như đã thấy xốn xang trong dạ rồi. Sen tốt tươi, bạt ngàn bông thắm lá xanh, chưa nhìn thấy người hái sen đâu đó bên kia những bông hoa sen thơm ngát, nhưng tiếng cười nói vui vẻ của người hái sen lẫn trong những bông thắm lá xanh, thật tuyệt. Chỉ tả tiếng cười nói của những người hái sen thôi, dẫu chưa nhìn rõ mặt, đã thấy rõ cái đẹp hòa trong cái đẹp, thiên nhiên và con người đằm thắm trữ tình, sinh động, thanh thoát…

Hai khổ thơ còn lại của liên khúc hái sen, dành cho việc triết luận của tác giả. "Hoa sen ai cũng ưa/ Cuống sen chẳng ai thích" (Cộng tri liên liên hoa/ Thùy giả liên liên cấn), cũng là sự thường tình ở đời. Hoa sen để thưởng lãm, còn như thân cây sen, mấy ai dùng làm gì, thường bỏ đi. Nhưng có một sự thật là "thân cây sen có những sợi tơ bền/ Vấn vương không dứt được". Nghĩa là thân cây sen vẫn có giá trị sử dụng riêng, người đời ít biết, nên thường coi rẻ. Nghĩa là hoa có giá trị của hoa, gương sen có giá trị của gương, lá sen có giá trị của lá, còn thân cây sen vẫn có giá trị của thân…Ví như ở đời, cao thấp khác nhau, nhưng ai cũng có giá trị của riêng mình, đóng góp của riêng mình, chớ nên xem thường, chớ nên có thái độ "Hạ mục vô nhân". Phải chăng, Nguyễn Du muốn mượn ý này, để bàn về quan niệm nhân sinh, để cảnh tỉnh người đời?

Khổ thơ cuối cùng, lại nêu một ý tưởng khác, cũng xoay quanh hình ảnh sen và công việc hái sen. "Lá sen màu xanh xanh/ Hoa sen dáng xinh xinh", điều ấy ai cũng biết cả rồi. Nhưng mà "Hái sen chớ đụng ngó/ Năm sau hoa chẳng sinh" (Thái chi vật thương ngẫu/ Minh niên bất phục sinh), thì đó lại là lời nhắc nhở ân cần của tác giả. Ngó sen là biểu tượng của sự sinh sôi, biểu tượng của tương lai, phải biết trân trọng, giữ gìn. Đấy chính là minh triết của vũ trụ, đồng thời cũng thể hiện tinh thần nhân văn của bậc trí giả và tâm hồn nhân hậu của thi nhân…

"Chiêm bao thấy hái sen" của Tố Như quả là một bài thơ đẹp, một giấc mơ đẹp. Ở đấy, thấy hiện lên cảnh hái sen rất thơ mộng, trong trẻo Tây Hồ. Những hàm ẩn ý tình trong hương hoa, sắc hoa, cả gương sen và thân sen nữa, phong phú, đằm thắm trữ tình và ngổn ngang những triết lý nhân sinh sâu thẳm…

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).