Nguyễn Du và giấc mơ hái sen trữ tình trong trẻo

"Chiêm bao thấy hái sen" của Tố Như quả là một bài thơ đẹp, một giấc mơ đẹp. Ở đấy, thấy hiện lên cảnh hái sen rất thơ mộng, trong trẻo Tây Hồ. Những hàm ẩn ý tình trong hương hoa, sắc hoa, cả gương sen và thân sen nữa, phong phú, đằm thắm trữ tình và ngổn ngang những triết lý nhân sinh sâu thẳm…

CHIÊM BAO THẤY HÁI SEN

Xắn gọn chiếc quần cánh bướm/ Chèo chiếc thuyền con đi hái sen/ Nước hồ sao mà lai láng thế/ Trong nước thấy có bóng người.

Hái, hái sen Tây Hồ/ Hoa và gương sen đều đưa lên thuyền/ Hoa sen để tặng người mình sợ/ Gương sen để tặng người mình thương.

Sáng nay đi hái sen/ Đã có hẹn với cô gái xóm đông cùng đi/ Chả biết cô ấy có đến hay không/ (Nhưng) bên kia khóm hoa đã nghe thấy tiếng cười nói.

Hoa sen thì ai cũng yêu/ Cọng sen nào có ai thích đâu/ Trong cọng sen có sợi tơ bền/ Vấn vương mãi không dứt.

Lá sen màu xanh xanh/ Hoa sen thật kiều diễm/ Hái hoa chớ làm gẫy ngó sen/ Năm sau sen không mọc nữa!

Một bài thơ ngũ ngôn, gồm 5 khổ thơ bốn câu, tả một giấc mơ được đi hái sen ở hồ Tây (Mộng đắc thái liên). Chỉ là một giấc chiêm bao thôi, có lẽ là hình ảnh từ những năm tháng tươi đẹp của tác giả khi còn trẻ, được thừa hưởng vinh hoa phú quý ở một thế gia quyền quý, rồi một đi không trở lại, kể từ khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc Hà tiêu diệt tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh đã suy tàn, năm 1786.

Quả là một giấc mơ tươi trong, rất hiếm thấy ở các tác phẩm thơ của Nguyễn Du, kể cả thơ chữ Hán và thơ Nôm.

Khổ thứ nhất tả cảnh chung, khái quát, về cảnh hái sen ở Tây Hồ mà chính tác giả là nhân vật trữ tình chủ thể.

Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền con hái sen.

(khẩn thúc giáp điệp quần/ Thái liên trạo tiểu đình)

376373044_207795722101277_5585698021551137670_n.jpg -0
Giấc mơ hái sen - ảnh minh họa.

Đấy là tả người đi hái sen, xắn gọn chiếc quần cánh bướm, chèo chiếc thuyền nhỏ mà lướt nhẹ trên mặt hồ, luồn qua những hoa sen và lá sen. Nhưng ai là người "Xắn gọn quần cánh bướm" ở đây? Thì còn ai nữa, nếu không phải là chính chàng trai trẻ Tố Như ? Ngày xưa con trai nhà khá giả thường mặc quần lụa ống rộng. Đi hái sen thì phải xắn gọn cái quần lên, thấy ống quần xòe ra như cánh bướm. Đấy là một liên tưởng gần gũi. Có người thì bảo rằng "giáp điệp quần" là cái váy của phụ nữ. Nhưng ở đây là chính tác giả, thì chỉ là xắn cái quần lên cho nó gọn gàng mà chèo thuyền đấy thôi…

Hai câu tiếp theo tả "nước hồ đầy lai láng" và xanh trong, "in rõ bóng người đi hái sen". Mấy nét chấm phá về cảnh và người hái sen Tây hồ trong một ngày đẹp trời, thật bình yên, thơ mộng. Có cảnh và có người trong cảnh, nhưng tả người mới chỉ ở vài điểm nhấn, ví như "Giáp điệp quần", tức quần lụa mỏng, tựa như cánh bướm phất phơ và hình bóng người hái sen in dưới mặt nước hồ trong, thanh thoát.

Khổ thơ thứ  hai, tả cụ thể công việc hái sen, đương nhiên có cả mục đích của việc hái sen nữa. Hái hoa sen, và cả gương sen, "cả hoa và gương đều bỏ lên thuyền". Thế thôi, chưa có gì đặc biệt. Những người dân ven hồ Tây, nhiều gia đình lấy việc hái sen (cả hoa và gương) làm kế sinh nhai. Nhưng cũng có những người khá giả, lại lấy việc hái sen chủ yếu để tiêu khiển, như một thú chơi tao nhã. Với tác giả bài thơ này, thì "Hoa để tặng người mình sợ/ Gương để tặng người mình thương" (Hoa dĩ tặng sở úy/ Thục dĩ tặng sở liên).

Hai câu thơ sau thấy chứa nhiều uẩn khúc trong tình ý. Hoa sen trắng hay hoa sen hồng, đều rất đẹp. Hương sen thơm nhẹ, tinh khiết. Đó là một loài hoa quý xưa nay, còn có cái tên rất đẹp là hoa phù dung. Hoa ấy hái về dùng để tặng người mình yêu quý, trân trọng, còn để cắm vào bình hoa trong nhà mình để thưởng lãm, hoặc dâng lên bàn thờ tiên tổ, ấy là lẽ thường. Nếu như hoa sen với sắc hoa và hương quyến rũ, làm biểu tượng cho cái đẹp trang nhã và quý phái, tức biểu tượng của giá trị thẩm mĩ, thì gương sen, trong có hạt sen rất quý, phần nhiều chỉ nghiêng về giá trị vật chất. Nhưng với Tố Như thì "hoa để tặng người mình sợ", còn "gương để tặng người mình thương", thì đã là một sự khác thường rồi! Cũng có người bình giải bài thơ này, đến đây thì bế tắc, không sao đoán định được tình ý sâu kín của tác giả. Một tính cách cang cường như Cao Bá Quát, khi tả hoa sen Tây Hồ, hay hoa sen trong bồn quý của một ông bạn thân, đều gửi gắm ý chí thanh cao ngạo nghễ của mình, rõ ràng, quyết liệt. Còn Nguyễn Du trong trường hợp này thì sao? Ẩn số này, phải chăng có thể liên tưởng đến tính cách của tác giả, thông qua những cứ liệu ở tiểu sử, và đặc biệt là cả ở văn chương nữa?

Tiểu sử cho hay, Nguyễn Du là một trong số 21 người con, cả trai lẫn gái của cụ Nguyễn Nghiễm, một vị quan to ở phủ chúa Trịnh, có tới tám bà vợ. Mẹ Nguyễn Du quê Bắc Ninh, kém chồng tới 32 tuổi. Cha chết, rồi mẹ chết khi Nguyễn Du còn trẻ. Từ đó gia đình Nguyễn Du lưu lạc mười năm gió bụi, Nguyễn Du ăn nhờ ở đậu, thấp thỏm lo âu, buồn bã trong đói nghèo, bệnh tật nơi góc biển bờ sông.

Tây Sơn đổ, Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn (1802), được thăng dần lên đến chức Cai bạ Quảng Bình (1809-1812), rồi lại được thăng tới chức Tham tri bộ Lễ, nhưng hình như không mấy khi được vui vẻ, chủ yếu là do bị quan trên chèn ép. Một số quan lại đương thời, xưa cộng tác với Tây Sơn, hoặc từng làm quan với nhà Lê, thường bị phái công thần triều Nguyễn ganh ghét, tìm cách triệt tiêu. Thế nên Nguyễn Du không thể không lo sợ, cố kín đáo giữ mình, thành ra có lúc bị Gia Long quở trách: "Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người Bắc người Nam. Khanh với Ngô Vị (con Ngô Thì Sĩ) đã được trẫm biết tài mà bổ dụng, làm quan đến chức Tham tri, biết điều gì cứ nói, để làm hết chức trách của mình, sao lại cứ rụt rè, sợ sệt, chỉ dạ dạ vâng vâng thế thôi?". Những sự thật đau lòng như thế, thử hỏi một người như Nguyễn Du, dẫu cho có cái khí phách cang cường chăng nữa, cũng không biết sợ hay sao?

Thơ văn Nguyễn Du, ngay trong tập "Nam trung tạp ngâm" này, cũng không ít bài thể hiện tâm sự buồn chán và lo sợ trước cảnh "Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc" (Những con oanh đẹp trong vườn thượng uyển hay ghen ghét nhau). Ngay như ở "Thanh Hiên thi tập" viết trước đó, tác giả cũng từng viết: "Gặp đời loạn vì muốn giữ toàn sinh mệnh nên luôn luôn sợ người ta" (Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân)… Thế nên "Hoa để tặng người mình sợ" ở bài "Mộng đắc thái liên" này, hẳn có nguyên cớ chi đây! Phải chăng, "người mình sợ" ấy là những kẻ có thế lực đương thời? Tặng hoa, có thể chỉ như một hành vi có tính chất ngoại giao, nhất thời, nôm na chỉ là cái "mẹo" giao đãi, cao hơn một chút là cái "mẹo làm quan", trong những hoàn cảnh nhất định nào đó, như một sự nhún mình, khôn khéo, nhưng mà không phải thực lòng. Danh tướng nhà Hán như Hàn Tín, lúc bĩ cực, cũng còn phải tạm thời chấp nhận chui qua háng kẻ mạnh, chỉ để được tồn tại mà tính kế lâu dài. Người quân tử biết cứng biết mềm, cốt để giữ cái mục tiêu lớn, thế mới thật đáng nể trọng. Nguyễn Du là người có bản lĩnh, biết "nội cương ngoại nhu" chăng?

Cũng không ngoại trừ khả năng này nữa: Với những bậc trí giả, chỉ biết sợ những kẻ tài giỏi, anh hùng trong thiên hạ mà thôi! "Sợ" ở đây không hẳn là sợ hãi, mà phải hiểu theo nghĩa tôn trọng, kính sợ người có tài và nhân cách cao cả hơn đời và hơn mình. Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, liệu còn có những ý tưởng sâu kín nào khác nữa chăng? Còn như gương sen để tặng người mình thương, cũng không mấy khó hiểu. Gương sen, trong có hạt sen quý, nhiều giá trị sử dụng, để tặng người thân thương của mình, vừa chân tình, vừa gần gũi…

Khổ thơ thứ ba, cũng tả cảnh hái sen, nhưng mà ở một chi tiết khác. Thi sĩ sáng nay đi hái sen, vốn đã có hẹn với một cô nàng hàng xóm nào đó, chắc là xinh đẹp trẻ trung. Hẹn rồi đấy, nhưng mà không biết bóng giai nhân ấy đã đến chưa (bất tri lai bất tri)? Chưa thấy người đẹp hiển hiện trước mắt, nhưng "cách hoa nghe cười nói" (cách hoa văn tiếu ngữ), thì hình như đã thấy xốn xang trong dạ rồi. Sen tốt tươi, bạt ngàn bông thắm lá xanh, chưa nhìn thấy người hái sen đâu đó bên kia những bông hoa sen thơm ngát, nhưng tiếng cười nói vui vẻ của người hái sen lẫn trong những bông thắm lá xanh, thật tuyệt. Chỉ tả tiếng cười nói của những người hái sen thôi, dẫu chưa nhìn rõ mặt, đã thấy rõ cái đẹp hòa trong cái đẹp, thiên nhiên và con người đằm thắm trữ tình, sinh động, thanh thoát…

Hai khổ thơ còn lại của liên khúc hái sen, dành cho việc triết luận của tác giả. "Hoa sen ai cũng ưa/ Cuống sen chẳng ai thích" (Cộng tri liên liên hoa/ Thùy giả liên liên cấn), cũng là sự thường tình ở đời. Hoa sen để thưởng lãm, còn như thân cây sen, mấy ai dùng làm gì, thường bỏ đi. Nhưng có một sự thật là "thân cây sen có những sợi tơ bền/ Vấn vương không dứt được". Nghĩa là thân cây sen vẫn có giá trị sử dụng riêng, người đời ít biết, nên thường coi rẻ. Nghĩa là hoa có giá trị của hoa, gương sen có giá trị của gương, lá sen có giá trị của lá, còn thân cây sen vẫn có giá trị của thân…Ví như ở đời, cao thấp khác nhau, nhưng ai cũng có giá trị của riêng mình, đóng góp của riêng mình, chớ nên xem thường, chớ nên có thái độ "Hạ mục vô nhân". Phải chăng, Nguyễn Du muốn mượn ý này, để bàn về quan niệm nhân sinh, để cảnh tỉnh người đời?

Khổ thơ cuối cùng, lại nêu một ý tưởng khác, cũng xoay quanh hình ảnh sen và công việc hái sen. "Lá sen màu xanh xanh/ Hoa sen dáng xinh xinh", điều ấy ai cũng biết cả rồi. Nhưng mà "Hái sen chớ đụng ngó/ Năm sau hoa chẳng sinh" (Thái chi vật thương ngẫu/ Minh niên bất phục sinh), thì đó lại là lời nhắc nhở ân cần của tác giả. Ngó sen là biểu tượng của sự sinh sôi, biểu tượng của tương lai, phải biết trân trọng, giữ gìn. Đấy chính là minh triết của vũ trụ, đồng thời cũng thể hiện tinh thần nhân văn của bậc trí giả và tâm hồn nhân hậu của thi nhân…

"Chiêm bao thấy hái sen" của Tố Như quả là một bài thơ đẹp, một giấc mơ đẹp. Ở đấy, thấy hiện lên cảnh hái sen rất thơ mộng, trong trẻo Tây Hồ. Những hàm ẩn ý tình trong hương hoa, sắc hoa, cả gương sen và thân sen nữa, phong phú, đằm thắm trữ tình và ngổn ngang những triết lý nhân sinh sâu thẳm…

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.