Nguyễn Công Trứ, một đỉnh cao văn hóa Việt

Hôm ấy, nhà thơ Tố Hữu đã hướng về Hà Tĩnh vái dài và nói: “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng  mà  chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.

Mùa hè năm 2000, nhà thơ Tố Hữu và phu nhân có một chuyến hành hương dài từ Hà Nội về Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Huế. Tại Vinh, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại mới được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã tiếp riêng và mời cơm hai ông bà một cách trọng thị, thân tình. Tôi khi ấy là phóng viên thường trú báo Nhân dân tại Nghệ  - Tĩnh, được mời đến cùng dự. Hôm ấy, nhà thơ Tố Hữu đã hướng về Hà Tĩnh vái dài và nói: “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng  mà  chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.

Thế đấy, cái khoảng cách về thời gian và ý thức hệ đã làm cho chúng ta không dễ hiểu hết và đánh giá đúng giá trị của tiền nhân!

Tam lập gồm đủ

Người xưa quan niệm bậc thánh nhân quân tử phải là người có đủ hoặc noi theo tam lập. Sách Tả truyện viết: "Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn" (Trước hết, cao nhất là thành tựu đạo đức, sau là làm nên công trạng, sau nữa là để lại lời hay được truyền tụng). Lập đức như cái cây, lập công như cái quả, lập ngôn như cái hạt để truyền lại đời sau.

Người ta làm một việc đã khó, Nguyễn Công Trứ gồm đủ tam lập.

Lập đức, còn có nghĩa là nêu gương về sự làm quan liêm khiết. Ông giữ chức tổng đốc nhiều tỉnh, thượng thư hai bộ…nhưng nhà vẫn thường nghèo như thuở nho sinh: “Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no/ Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Về hưu, ngoài lương hưu, không có gì hơn, nên được Tự Đức thưởng cho 170 quan tiền, bèn mở tiệc mời đồng liêu và bạn hữu chén sạch. Ông ghét nhất bọn quan dốt, quan tham: “Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức / Thịt hay ăn một cục tham si”.

Nguyễn Công Trứ, một đỉnh cao văn hóa Việt -0
Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.

Về lập công, thì ông đã đánh đuổi quân Xiêm, đánh dẹp các cuộc bạo loạn, nổi dậy để ổn định chính trị; lập nên huyện Kim Sơn, Tiền Hải và một tổng của huyện Giao Thủy.

Về lập ngôn, ông để lại những áng văn chương bất hủ. Người Việt Nam, hầu như đều thuộc ít nhất câu thơ tuyên ngôn của ông: “Đã mang tiếng đứng trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Chữ “danh” của Nguyễn Công Trứ không phải là học vị, chức quan mà là tài danh, là việc làm rạng danh đất nước.

Người mang cái tôi đi lừng lững giữa đời

Thời phong kiến, vua là trời. Không ai được quyền có cái tôi, chỉ có bổn phận của thần dân. Chỉ có Nguyễn Công Trứ là người ngất ngưởng, tự nhận mình là người tài giỏi, và dùng cái tài giỏi ấy để chơi với đời: “Trời đất cho ta một cái tài /Giắt lưng dành để tháng ngày chơi; Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông/ Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng…”. Nghìn xưa người tài không thiếu, nhưng coi cá nhân mình, coi cái tài của mình như một lực lượng riêng, một triều đình riêng như Nguyễn Công Trứ thì chưa từng có!

Ông có nhiều công trạng trong việc đánh giặc ngoại xâm, dẹp loạn, ổn định chính trị; trong khai khẩn đất đai, thủy lợi… dân gian còn nhớ. Lẽ xuất - xử, hành- tàng của nhà nho đơn giản là “tiến vi quan thoái vi sư”, được trọng dụng thì làm quan, không được trọng dụng thì làm thầy, lui nữa thì về ở ẩn. Chính trị xưa, vì thiên bảo vệ ngôi báu và lợi ích cục bộ, thường hay dùng bọn ác nhân vô đạo, hay thực thi gian trá, bạo tàn, nên ở ẩn là con đường mà những người biết liêm sỉ thường lựa chọn. Vì thế, mà người ta ca ngợi, tôn thờ ông Đào Tiềm hơn là ca ngợi những ông tể tướng giỏi như Quản Trọng, Vương An Thạch… Vì thế mà đêm dài trung cổ đã dài lại kéo dài thêm vì người có tài đức không được trọng dụng, người có tài đức thường hay thúc thủ.

Nguyễn Công Trứ không coi con đường ấy là con đường của mình. Ông vào đời cũng không theo kiểu xuất thế của nhà nho với phận sự của bầy tôi. Ông coi mọi việc đời, mọi việc trong vũ trụ, việc gì cũng là việc của mình: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự!”. Thông điệp từ cuộc đời của Nguyễn Công Trứ cho ta thấy: Mỗi người có trách nhiệm là một ông vua; và đã có trách nhiệm thì trách nhiệm ấy chính là ông vua của mình! Sở thích không hại đến ai, đấy chính là ông vua của mình, lẽ sống của mình!

Nguyễn Công Trứ có cái tôi phóng dật.

Nhưng ông còn một cái tôi khác, quan trọng hơn, là cái tôi trách nhiệm.

Năm Thiệu Trị thứ tư 1844, đang làm Tuần vũ An Giang, Nguyễn Công Trứ bị Nguyễn Công Nhàn vì đố kỵ, vu cáo Công Trứ chở thuyền gian, ngầm thu mua hàng cấm (sừng tê giác). Ông bị cách hết chức tước, bắt làm lính trơn sung vào đội quân tuần thú (giống như bộ đội biên phòng) ở Quảng Ngãi. Đến Quảng Ngãi, Tuần vũ tỉnh ấy thấy Nguyễn Công Trứ, nguyên mệnh quan triều đình, lại đã 65 tuổi rồi mà phải mặc áo ngắn, đội nón dấu, đeo dao tu thì rất ái ngại, định lấy đồ khác thay cho đồ lính, Nguyễn Công Trứ vội ngăn:

 - Xin ngài cứ để vậy. Lúc làm Đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào, có nghĩa vụ đối với địa vị ấy, làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được!

Nguyễn Công Trứ, một đỉnh cao văn hóa Việt -0
Tượng đài Nguyễn Công Trứ làm bằng đồng, đặt tại sân chính của Trường THCS Nguyễn Công Trứ, quận Ba Đình, Hà Nội.

Tuần vũ Quảng Ngãi càng thêm bội phục, viết sớ tâu lên vua Thiệu Trị đề nghị xét lại vụ án, mới rõ Công Nhàn vu cáo. Vua lại cho Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình… Về hưu, năm Tự Đức 11 (1858) nghe tin Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, ông còn xin cầm quân đánh Pháp!

Mọi thứ chức tước không phải phù phiếm nhưng là vật ngoại thân, là cái giả tạm. Tài năng, tấm lòng con người, trách nhiệm với cuộc sống mới là giá trị đích thực. Dù là việc lớn, việc bé, người có trách nhiệm đều phải tận lực thi hành. Đấy chính là bài học sâu sắc mà hành xử của Nguyễn Công Trứ  để lại cho chúng ta như một di sản.

Người san bằng mọi giới hạn để con người và hạnh phúc cuộc sống lên ngôi

Thuyết tương đối của Anh-xtanh ra đời làm cho cơ học của Niu-tơn trở nên có giới hạn. Trong chừng mực nào đó, có thể coi Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ như Anh-xtanh trong đời sống xã hội Việt Nam khi phát hiện và đề cao giá trị cá nhân, quyền sống của con người.

Nguyễn Công Trứ coi con người là trung tâm của vũ trụ, là tối cao.

Thần thánh không thể ở trên con người, không có ý nghĩa gì nếu không đem lại sự chia sẻ, cảm thông, sự phục vụ đối với con người.

Có lần rượu say, Nguyễn Công Trứ qua miếu Long thần mời tượng thần cùng uống, say quá đổ rượu vào tượng và đánh cả thần. Sáng mai tỉnh dậy, ông làm bài thơ tạ lỗi dán ở miếu: “Hôm qua trời tối tới chơi đây/ Ðánh phải long thần mấy cẳng tay/ Khi tỉnh thời nào ai có dám/ Say!”.

Sư chùa làng Uy Viễn hay chữ; Nho Phật thường hạ bệ nhau. Sư có lần tự phụ trước anh học trò Củng: “Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục!”. Công Trứ trả miếng: “Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người!”. Thần Phật đã thế, còn gì có thể ràng buộc, đè nén sức sống tự do của con người!

Xưa, các du tử, do biết đời, biết người đã từng kêu gọi con người hãy biết đốt đuốc chơi đêm. Nguyễn Công Trứ cổ xúy cho con người biết tìm lạc thú ở đời “Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí; Chơi xuân kẻo hết xuân đi”. Ông cho rằng, con người không biết tạo ra, không biết hưởng lạc thú ở đời thì dẫu sống nghìn năm cũng không có ý nghĩa. Ông xót xa cho những kẻ chỉ biết “tiền đếm, gạo lường” tầm thường vô vị. Mọi thứ đối với ông là tương đối. Cái tuyệt đối là giá trị bản thân. Ông lấy rất nhiều vợ lẽ. Khi hưu ở Đại Nài, ông lấy một cô 23 tuổi, và nói, 50 năm trước, mềnh cũng 23 tuổi như mụ mi (Tân nhân nhược thị lang niên vấn/ Ngũ thập niên tiền nhị thập tam). Ông lấy lẽ không vì chơi mà vì tình. Thuở học trò, đã có chuyến “Giang sơn một gánh giữa đồng” với cô đào Hiệu Thư người làng Cổ Đạm. Khi làm Tổng đốc Hải An (Hải Phòng, Quảng Yên), trong một lần tổ chức hát xướng ở dinh, Nguyễn Công Trứ tình cờ gặp lại Hiệu Thư. Ông Tổng đốc đang ngờ ngợ thì Hiệu Thư hát lên “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng” thì Tổng đốc liền làm bài thơ tặng:

Giăng xế nhưng mà cung chửa khuyết
Hoa tàn song lại nhị còn tươi
Chia đôi duyên nọ đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười…
Rồi lại cưới nàng làm vợ
.

Đánh giá Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Hà Tĩnh - Hoàng Nho Nhã viết:

Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu
Phong lưu đáo lão thế gian vô
!

(Sự nghiệp làm người thiên hạ sợ thì trong thiên hạ không ít, nhưng phong lưu đến già như Nguyễn Công Trứ thì trên đời không có ai như ông).

Người ta có thể gọi Nguyễn Công Trứ là một nhà nho, một nhà thơ tài tử, một ông quan thanh liêm, chính trực, có nhiều công trạng… nhưng đúng hơn, phải gọi ông là một nhà tư tưởng, một nhà nhân đạo chủ nghĩa. Sự nghiệp của ông, tư tưởng và cách sống của ông còn ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống hôm nay, đến việc xây dựng tinh thần và tính cách Việt.

Nguyễn Sĩ Đại

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).