Người Trí thức theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Mùa hè năm 1946, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp để mưu cầu nền độc lập, thống nhất bền vững cho Việt Nam. 

Khi Bác Hồ về nước, với tinh thần yêu nước nồng nàn, 4 trí thức người Việt đã thành danh ở Pháp gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân và Võ Đình Quỳnh, đã nhiệt thành cùng Bác Hồ về Việt Nam tham gia kháng chiến… Trong đó, Võ Quí Huân là người đã có vợ (gốc Nga, quốc tịch Pháp) và một cô con gái; đây chính là những trắc ẩn của số phận người trí thức yêu nước.

Về nước tham gia kháng chiến

Ông Võ Quí Huân sinh năm 1912 trong một gia đình giáo học huyện Thanh Chương (Nghệ An). Năm 1935-1937, ông tham gia phong trào Bình dân, làm Chủ nhiệm báo Đông Dương hoạt động (L’activité Indochinoise) xuất bản song ngữ Việt – Pháp. Đây là một tờ báo tiến bộ đương thời, có sự tham gia của các nhân sĩ như Lê Văn Chất, Huỳnh Tấn Phát…; luôn đề cao tinh thần yêu nước, bảo vệ các cuộc đình công, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Do những hoạt động chống đối nhà cầm quyền, tờ báo L’activité Indochinoise bị đóng cửa; Võ Quí Huân phải trốn sang Pháp. Tại Pháp, Võ Quí Huân vừa học vừa làm, vừa tham gia các hoạt động chính trị.

Ông đã giành được 3 bằng kĩ sư các ngành: cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp ở Pháp và Đức. Ông từng làm việc cho hãng tầu thuỷ Compagnie Translatique (Pháp) và một số nhà máy lớn. Ông cũng là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef… 

Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Pháp với tư cách là Thượng khách của Chính phủ Pháp… Cùng với cộng đồng người Việt tại Pháp, ông Võ Quí Huân đã tham gia tổ chức các hoạt động nghênh đón, phục vụ Hồ Chủ tịch và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc hoà đàm Fontainebleau với nước Pháp, song hội nghị đã thất bại do phía Pháp cương quyết khước từ nền độc lập của Việt Nam. 

Trung tuần tháng 9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc. Trong số 4 trí thức cùng Hồ Chủ tịch về nước, ông Võ Quí Huân có vợ và con gái mới tròn 2 tuổi. Vợ ông Huân là bà Vo Qui Irenè, gốc Nga. Bà là chuyên gia Ngôn ngữ học, nói và viết thành thạo 7 ngoại ngữ. Cô con gái có tên là Vo Qui Viet Nga (Võ Quí Việt Nga), là kết quả tình yêu sâu sắc của cuộc hôn nhân “không biên giới”. Lúc này, bà Irenè đang đi thi Tiến sĩ tại Paris, ông Võ Quí Huân nuôi bé Việt Nga mới tròn 2 tuổi; nhưng trước nghĩa vụ với Tổ quốc, ông đã nén tình cảm riêng, quyết tâm trở về Việt Nam phục vụ đất nước.

Ông Võ Quí Huân và vợ, bà Irenè. (Ảnh chụp tại Pháp, khoảng năm 1940)
Ông Võ Quí Huân và vợ, bà Irenè. (Ảnh chụp tại Pháp, khoảng năm 1940)

Sau khi điện thoại thông báo và từ biệt vợ, ông Huân gửi bé Việt Nga cho một người bạn nuôi giúp. Ông Huân ôm cô con gái cưng vào lòng và trân trọng hứa: “Ba đi công việc vài ba tháng sẽ trở lại!”; bé Việt Nga mếu máo rồi oà khóc níu áo ba, hai cha con nghẹn ngào giây phút biệt ly…

Trong kháng chiến chống Pháp, với trọng trách Giám đốc Sở khoáng chất kĩ nghệ Trung bộ, kĩ sư Võ Quí Huân đã chủ trì việc thiết kế, xây dựng lò cao đầu tiên sản xuất gang phục vụ kháng chiến. Từ đó, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” đã được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kĩ sư Võ Quí Huân. 

Cuộc kháng chiến ngày càng khốc liệt và cơ hội của ông Huân trở lại nước Pháp đón vợ con về Việt Nam là điều không thể. Một thời gian sau, ông Võ Quí Huân thành thân với bà Tạ Kim Khanh, ái nữ của một gia đình gia giáo Thành Vinh và sinh được 4 người con. Những người con của ông bà đều được đặt tên gắn với nghề nghiệp và ước mơ của cả một thời đại, là Võ Quí Gang Anh Hào, Võ Quí Thép Hăng Hái, Võ Quí Yêu Hoà Bình (tức Võ Quí Hoà Bình), Võ Quí Quốc Hưng.

Sau khi về tiếp quản Thủ đô, kĩ sư Võ Quí Huân được giao nhiều trọng trách trong đào tạo cán bộ kĩ thuật về cơ khí, luyện kim. Ông chính là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Kỹ thuật Trung cấp I (tiền thân của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội ngày nay)… 

Năm 1966, kĩ sư Võ Quí Huân bị một cơn đau nặng phải nhập viện Việt – Xô. Sang đến năm 1967, bệnh tình của ông trở nặng. Chăm sóc ông Huân những ngày lâm trọng bệnh, ngoài người vợ chỉ còn cô con gái Võ Quí Hoà Bình, năm ấy tròn 13 tuổi… 

Chị Võ Quí Hoà Bình nhớ lại: “Nằm trên giường bệnh, ba tôi thường lấy ra một số bức ảnh, tần ngần ngắm kĩ rồi thở dài; trong đó có bức ảnh anh trai tôi đang du học ở CHDC Đức và bức ảnh một đứa trẻ con Tây. Tôi hỏi thì ba tôi nói: “Đây là cháu ngoại của ba!”. Thấy tôi ngạc nhiên, ông giải thích: “Con còn một người chị nữa ở Pháp. Sau này, các con phải tìm bằng được chị ấy thì ba mới an lòng nơi chín suối”... 

Cuộc trùng phùng sau gần sáu thập kỉ

Cuối tháng 9 năm 1967, người kĩ sư trí thức Việt kiều Võ Quí Huân đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 56, khi mà trí tuệ và lòng yêu nước của ông vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu được gặp Bác Hồ.

Từ đó, cô bé Võ Quí Hoà Bình luôn tâm niệm phải bằng mọi giá tìm được bà Irenè và chị Việt Nga, nối lại sợi dây tình cảm đã bị gián đoạn bởi những bể dâu thời cuộc. Chị đã tự học tiếng Pháp và định hướng để hai người con sang Pháp du học. Người con gái là Võ Quí Thuỳ Dương trở thành nha sĩ ở Pháp; con trai là Võ Hồng Quân học trường Vatel, nơi nổi tiếng đào tạo về quản lý khách sạn và nhà hàng…

Trở lại những manh mối đầu tiên để đi tìm người chị gái nơi trời Tây, chị Hoà Bình kể: Năm 1975, khi lục tìm những tư liệu cũ, tôi phát hiện một lá thư của ba tôi ghi địa chỉ bà Irenè. Tôi bèn nhờ thầy giáo dạy tiếng Pháp viết hộ hai bức thư gửi kèm những bức ảnh về Việt Nga (để làm tin) mà cha tôi còn giữ được, cùng các bức ảnh anh em tôi ở Việt Nam. Bà Irenè đã không hồi âm. Còn chị Việt Nga viết thư cho chúng tôi, nhưng giữ một thái độ xa cách: “Thật không ngờ chị lại có những người em ở Việt Nam. Các em rất xinh đẹp, trẻ trung và giống cha”…

Từ trái qua: Anh Michel (chồng chị Việt Nga), chị Hòa Bình, chị Việt Nga, anh Quốc Hưng. (Ảnh chụp tại Pháp năm 2012).
Từ trái qua: Anh Michel (chồng chị Việt Nga), chị Hòa Bình, chị Việt Nga, anh Quốc Hưng. (Ảnh chụp tại Pháp năm 2012).

Chị Việt Nga tự bạch: “Với chị, hai từ Việt Nam gợi lên nỗi đau mất cha. Hiện giờ sức khoẻ của chị không được tốt. Chị không dễ vượt qua nỗi đau của quá khứ để có thể gặp mặt các em”…

Tháng 10-2007, tròn 40 năm sau ngày ông Võ Quí Huân trăng trối với con gái phải đi tìm bằng được người chị nơi trời Tây, chị Hoà Bình lên đường sang Pháp lần thứ tư. Cả 3 lần trước, dù đã liên hệ qua điện thoại nhưng chị Việt Nga đều khước từ việc gặp gỡ. 

Chị Hoà Bình kể lại: “Con trai tôi đã ở Pháp nhiều năm nên không khó để tìm được địa chỉ của bác Việt Nga. Chúng tôi được một người lái taxi nhiệt tình chở đi và hỏi thăm đường tới làng Moux en Morvan, cách Paris khoảng 500km. Xe dừng lại trước một ngôi nhà ở cuối làng, cháu Quân xuống xe bấm chuông, tôi vẫn ngồi lại và nói với người lái taxi: “Nếu lần này chị ấy vẫn từ chối, thì chúng tôi sẽ về luôn”.

Khi ra mở cổng, chị Việt Nga sững sờ và lặng người mất vài phút mới mời khách vào nhà. Quân hỏi: “Cháu có thể mời mẹ cháu vào được không?”. Bác Việt Nga lúc này đã không thể từ chối tình cảm ruột thịt, chị Hoà Bình bước vào khu vườn và ôm lấy người chị gái của mình… Khi sự xúc động đã nguôi ngoai, họ cùng đi vào nhà. Chị Việt Nga chỉ im lặng lắng nghe những lời tâm sự của người em gái. Mãi lúc sau, chị mới hỏi: “Cha làm việc vất vả lắm phải không”? 

Trong nước mắt, chị Hoà Bình đã nói: “Ba rất nhớ bà Irenè và yêu chị. Ba rất ân hận vì đã không trở lại với hai mẹ con chị”… Hai mẹ con chị Hoà Bình được anh Michel (chồng chị Việt Nga) dẫn lên gác nhỏ, đâu đâu cũng thấy đầy ắp những hình ảnh, kỉ niệm về người cha Võ Quí Huân và mẹ Vo Qui Irenè, còn có cả một thùng gỗ đầy ắp những bức thư và ảnh từ Việt Nam gửi sang… Sau cuộc gặp gỡ này, chị Hoà Bình nhiều lần sang nước Pháp thăm gia đình chị gái Việt Nga.

Cận Tết Bính Thân, tôi trở lại căn nhà trên phố Quang Trung (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) thăm chị Hòa Bình. Vợ chồng chị tíu tít cho tôi xem những tư liệu, hình ảnh mới sưu tầm được về người cha và chị gái Việt Nga ở Pháp. Chị Hòa Bình khoe: “Năm nay tròn 70 năm ba chị theo Bác Hồ về nước kháng chiến, chị sẽ sang Pháp thăm bác Việt Nga. Bác Nga giờ sức khỏe yếu rồi, rất ngại đi máy bay nhưng gia đình chị vẫn luôn mong mỏi mời được bác sang thăm Việt Nam, để thắp hương cho ba và đi thăm phố Võ Quí Huân (tại quận Cầu Giấy, Hà Nội)”.

Duy Anh

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.