Người thơ ‘Thức cùng bóng tối’

Tôi thường có may mắn được bạn bè từ mọi miền gửi thơ tặng, song không hiểu sao khi nhận được tập thơ này lại có linh cảm khác thường. Tôi đọc liền mạch với mong muốn không chỉ để hiểu thơ, mà còn tìm xem có manh mối, cơ duyên nào để Việt Anh biết mình, và cả cái địa chỉ xưa cũ, làm khó cho người đưa thư, cậu ta lấy đâu ra?

Đọc tập thơ "Thức cùng bóng tối" của Nguyễn Việt Anh, NXB Hội Nhà văn, 2014

Khi tôi nhận được tập thơ "Thức cùng bóng tối" của Nguyễn Việt Anh gửi tặng thì ngay cả chị bưu tá cũng phải reo lên: "Thật may cho bác, là cháu chứ người khác thì chịu không tìm ra". Chả là địa chỉ đề gửi cho tôi đã được thay đổi cách đây 20 năm. Không chỉ thế, đọc đúng tên mình rồi mà vẫn còn hoài nghi, bởi người gửi tặng thơ không hề quen biết, sinh năm 1982, sau tôi vừa đúng 40 năm. Mọi chuyện đều lạ lẫm.

Tôi thường có may mắn được bạn bè từ mọi miền gửi thơ tặng, song không hiểu sao khi nhận được tập thơ này lại có linh cảm khác thường. Tôi đọc liền mạch với mong muốn không chỉ để hiểu thơ, mà còn tìm xem có manh mối, cơ duyên nào để Việt Anh biết mình, và cả cái địa chỉ xưa cũ, làm khó cho người đưa thư, cậu ta lấy đâu ra?

Rất may có mấy dòng trích ngang ở bìa 2, tôi biết được Nguyễn Việt Anh ở 39 phố Hàng Bồ, Hà Nội và có cả số điện thoại. Tôi gọi điện để cảm ơn, cũng để hỏi cho rõ ngọn ngành. Việt Anh không nén nổi vui mừng, nói như reo: "Cháu không ngờ bác nhận được, lại đã đọc xong và thông tin lại cho cháu". Việt Anh bộc bạch: “Cháu biết bác từ 11 câu thơ của bác trong tác phẩm “Nghìn câu thơ tài hoa” của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, Nhà xuất bản Văn học năm 2000. Địa chỉ gửi cho bác, cháu nhờ bạn tìm giúp ở cuốn sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại” của Hội Nhà văn Việt Nam. Qua đó tôi biết Việt Anh đã đồng cảm và thực lòng trân quý tôi, câu chuyện bác cháu càng trở nên gần gũi, chân tình.

Nghe Việt Anh kể tôi mới biết cuộc đời cháu đầy những ngang trái, bất hạnh: bị mất hoàn toàn thị lực lúc mới 14 tuổi. Và cũng trong năm ấy, Việt Anh phải gánh chịu thêm cú sốc nặng nề: bố mẹ chia tay. Tòa phán xét, cháu ở với bố trong cảnh "gà trống nuôi con". Thiếu hẳn hơi ấm, tình thương, sự nâng vực của mẹ đúng lúc cần sự bồi đắp nhân cách, tâm hồn, chỉ có sự chăm sóc của bố và ông bà nội. Một cậu bé đang như "búp trên cành"giữa chốn phồn hoa Hà Nội đã phải gánh chịu nỗi đau quá sức. Song Việt Anh đã không cam chịu, đầu hàng số phận.

Được trời phú cho tư chất thông minh và nghị lực phi thường, từ năm 1999 - 2002, Việt Anh đã miệt mài ngày đêm để học xong chương trình THCS, THPT Trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu và lớp vật lý trị liệu y học Tuệ Tĩnh.  

Có nghề vật lý trị liệu, Việt Anh đã được Hội người khiếm thị tạo mọi điều kiện cho vào làm nghề "tẩm quất" để sinh sống, để bớt đi gánh nặng cho bố và ông bà. Không chỉ chăm chỉ học hỏi, khéo léo chân tay, thành thạo nghề nghiệp, vốn có năng khiếu bẩm sinh, Việt Anh lại đam mê học làm thơ. Việt Anh coi thơ như điểm tựa tinh thần để sống, để tin yêu vượt lên nỗi đau đường đời. 

Vợ chồng tác giả Nguyễn Việt Anh và hai con khi còn đoàn tụ sum vầy.
Vợ chồng tác giả Nguyễn Việt Anh và hai con khi còn đoàn tụ sum vầy. 

Tôi khâm phục nhiều người khuyết tật viết văn, làm thơ, như: Đỗ Trọng Khơi, Trần Xuân Trường, Phạm Minh Giắng... nhưng chưa từng thấy ai mất hoàn toàn thị lực làm được thơ hay như Việt Anh. Có lẽ Việt Anh đã đến với thơ bằng con đường độc đạo, bị núi cao vực sâu chắn lối. Học làm thơ bằng cách nhờ người thân đọc cho nghe các bài thơ trên báo, các tập thơ hay bạn bè tìm mua giúp, khi làm được thơ phải nhờ người ghi chép lại từ trí nhớ của mình. Và rồi tìm nhờ những người đã có nghề thơ góp ý sửa chữa cho.

Cứ như thế, những bước đi chập chững ban đầu đã âm thầm gây men, cuốn hút, nuôi dưỡng tâm hồn thơ trong Việt Anh. Những khao khát ước mơ của tuổi thanh xuân cũng lớn dần và đơm hoa kết trái. Người thơ đón nhận tình yêu, rồi cưới vợ sinh con.

Tưởng con thuyền hạnh phúc sẽ êm trôi trên con sông đời nhọc nhằn mà thơ mộng ấy, bù đắp cho những mất mát thiếu hụt của tuổi ấu thơ! Nào ngờ "họa vô đơn chí", nỗi bất hạnh không chịu buông tha. Vợ chồng, con cái đang sum vầy hạnh phúc, đầy ắp tiếng cười trong nhà, lại bất ngờ rơi vào cảnh "tan đàn sẻ nghé", anh một đường theo cha và em một đường theo mẹ. Việt Anh lại một lần nữa rơi xuống vực thẳm - hố đen tinh thần

Không thể cầm lòng trước những hiểm họa khổ đau liên tiếp đến bao nhiêu, thì càng ngưỡng mộ bản lĩnh và nghị lực phi thường của người thơ bấy nhiêu. Có lẽ, chính sức chịu đựng và nghị lực vượt thoát những bi kịch của người thơ cũng đã làm nên hồn cốt đặc biệt cho thơ rồi. Giá trị của tác phẩm hẳn sẽ được nhân lên trong cảm nhận của người đọc khi thấu hiểu, sẻ chia xót xa cùng tác giả.

"Thức cùng bóng tối" là một tập thơ được viết ra bằng nhiều suy ngẫm, trăn trở từ những biến cố, những được, mất ở chính cuộc đời máu thịt của tác giả Việt Anh.

Với 57 bài thơ đều sử dụng thể thơ lục bát, có ưu thế biểu đạt tình cảm cho  thơ tình. Nội dung như tự truyện, bao dung nhân hậu. Xót đắng, nhưng không bi lụy, oán hờn, bế tắc.

Đoạn tuyệt với ánh sáng khi mới 14 tuổi, đời chỉ còn thăm thẳm bóng tối, ước mơ khao khát lớn nhất, nếu không muốn nói duy nhất, là ánh sáng. Và Việt Anh đã thốt lên: "Thức cùng bóng tối thẳm sâu/ Mới hay đêm cũng thầm đau nỗi người/ Muốn làm ngày một lần thôi/ Được mang sắc áo non tươi nắng hồng" (Thức cùng bóng tối).

Với Việt Anh, mơ ước, khát vọng phải gắn liền với nỗ lực hành động vì sự sống cụ thể mỗi ngày. Có lẽ, chính bản lĩnh, niềm tin đã giúp Việt Anh vượt qua được áp lực nghiệt ngã của bóng tối. Đã tiếp sức, gợi mở cho tác giả sức liên tưởng, viết được những câu thơ tài hoa, để sẻ chia an ủi chính mình, có sức mạnh vô hình mà thần diệu: "Ngàn sao nhấp nhánh giữa trời/ Có hay bóng tối một đời hy sinh/ Chỉ vầng trăng thức lặng thinh/ Khuyết tròn với những tâm tình của đêm" (Chỉ vầng trăng thức).

Cảm ơn thơ, chỉ có thơ mới biết được trăng và vạn vật thức cùng bóng tối, mới đủ khả năng chuyển hóa các cung bậc từ khát vọng đến hy vọng của người thơ như thế.

Khát vọng cháy bỏng ấy, chắc không chỉ với tập thơ này, mà sẽ chi phối mọi suy nghĩ và hành động của Việt Anh suốt cuộc đời.

Tên tập thơ đã thể hiện tính chủ động đối diện, chấp nhận mọi khó khăn thách thức. Dẫu biết đời mình không tìm lại được ánh sáng, thì người thơ đã chuẩn bị cho mình tâm thế: thức cùng bóng tối, để nhìn cuộc đời bằng thứ ánh sáng riêng - ánh sáng tâm hồn mình.

Ta gặp tâm thế bình thản, cách ứng xử thông minh mà chân thành của Việt Anh trước một vấn đề tưởng khó bề giải tỏa, cảm thông, ngay ở bài thơ đầu.

Trong tình yêu, hay cuộc sống chồng vợ, cũng phải trải qua nhiều sóng gió, bất đồng, cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, nếu mỗi người không độ lượng chấp nhận hi sinh, nhận thiệt thòi thương khó về mình, mà cố chấp, đố kỵ thì rồi cũng phải trả giá. Mà cái giá cho những sai lầm ấy, nhiều khi không thể sửa chữa được. Việt Anh chắc cũng thấm thía, nghiệm ra từ chính đổ vỡ của bản thân mình: "Song song hai nỗi lặng thầm/ Song song hai trái tim bầm dập đau/ Song song hai giấc mơ nhàu/ Song song hai mái tóc màu phôi pha/ Song song hai vết mưa nhòa/ Song song hai chiếc bóng da diết chiều/ Tôi và em giữa tình yêu/ Vẫn song song bước dẫu nhiều trái ngang" (Song song).

Thế đấy! Nếu không mở lòng để chấp nhận các trạng huống để duy trì sự "song song", thì không những không có được trái ngọt, mà cuộc đời chỉ toàn nếm trải vị đắng của tình yêu: "Cà phê đắng ngắt bờ môi/ Căn phòng chống chếnh ngoài trời bão giông/ Sao mưa cứ lọt qua song/ Theo nhau len lỏi vào trong nỗi buồn" (Cà phê đắng).

Vâng, chính khi có, rồi để mất "song song" thì nỗi đơn lẻ, trống vắng là thế. Có mưa gió nào lọt qua song đâu? Chỉ có sự trống vắng giày vò mình đến tê tái được mang tên nỗi buồn đó thôi. Mà khi đã len lỏi thấm vào trong nỗi buồn rồi thì không cách gì ngăn cản, che chắn, rũ bỏ dễ dàng đâu.

Và đã mất "song song" thì như mất đi phương hướng, đẩy người ta vào vô định, chán chường: "Con đường về với bình yên/ Một con đường nhỏ không tên không nhà/ Không xe cộ không người qua/ Không nắng sớm không chiều tà không đêm/ Con đường thăm thẳm mắt em/ Khỏa trần tôi bước giữa miền hoang sơ" (Con đường).

"Song song" trong tình yêu, tình vợ chồng của Nguyễn Việt Anh, là một phát hiện, một đóng góp thật có ý nghĩa, cho kho tàng kinh nghiệm của tình yêu. Bởi mất đi "song song" là kéo theo sự bất ổn, làm đảo lộn cách nhìn cách cảm, gây ra nhiều hệ lụy cho hạnh phúc lứa đôi: "Chẳng thà làm hạt mưa rơi/ Còn hơn làm nắng mà oi oi nồng/ Chẳng thà buồn giữa phố đông/ Còn hơn đóng cửa mà không nỗi gì/ Chẳng thà đến để rồi đi/ Còn hơn sống với hồ nghi suốt đời" (Chẳng thà).

Yêu thì nhiều đường, lắm lối, nhưng đều có chung tâm trạng: Nghĩ thì trên trời dưới biển, nhưng khó có thể tỏ bày thoát ý, trọn lời. Tình yêu trong lòng Việt Anh cũng dâng trào, trên những nẻo vòng, những cung bậc tâm trạng thật ngọt ngào, bảng lảng, vu vơ, Có hơi hướng phong vị ca dao nhưng hồn cốt mới - hiện đại.

Những bài thơ trong tập "Thức cùng bóng tối" hầu hết ngắn. Nên nhớ, người thơ còn phải nhờ người chép lại mỗi sáng tác từ trí nhớ của mình...

Song, theo tôi cũng không quan trọng lắm ở sự ngắn, dài. Thơ của Việt Anh đều có tứ, mà ý, tứ mỗi bài thơ chừng như đều được chưng cất, tinh lọc, mã hóa từ những khổ đau bất hạnh, thành, bại của chính bản thân và gia đình mình, qua lăng kính nhân văn. Cả 57 bài thơ Việt Anh đã vượt qua một cách ngoạn mục về sự đòi hỏi thách thức của vần luật; mà bằng ngôn ngữ giàu hình tượng, được tìm tòi, chắt lọc công phu, đa ngữ nghĩa, không bị vần luật rê dắt dễ dãi nhàm chán - một thách thức với cả nhiều nhà thơ già dặn, cao tay.

Lâm Xuân Vi

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).