Người mơ mộng của xứ Mường

Nghệ nhân Ưu tú Bùi Tiến Xô xúc động ôm cái chiêng dàm vào lòng y như nâng niu, trân trọng một đứa trẻ chứa đựng sức mạnh tiềm năng linh khí vô biên. Anh thật thà lên tiếng: "Này, không riêng gì bà con xã Vĩnh Tiến thuộc đất Mường Động (huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình bây giờ) nơi tôi đang sinh sống mà người dân của các  Mường khác họ bảo tôi là cái anh "cổ hủ"; cái thứ người "dở hơi" không chỉ thuộc dạng "đầu bảng" của tỉnh Mường Hòa Bình mà còn "nhất Vịnh Bắc bộ" đấy ông ạ!".

"Tự thưởng" cho mình một cái cười nhạo, Bùi Tiến Xô ung dung rời chiếu cùng với cái chiêng cổ. Anh tiếp tục "luận tội" mình bằng cái giọng hào sảng, nửa đùa nửa thật. Rằng thì, kinh tế thị trường diễn ra một thời gian ngắn, những ngôi nhà sàn Mường truyền thống bị người ta "hô biến". Thay vào đó là những ngôi nhà bê tông. Ấy thế mà Bùi Tiến Xô lại bỏ tiền ra dựng một ngôi nhà sàn Mường truyền thống, chỉ để làm nơi lưu giữ chiêng cồng. Rõ là ông ta "hâm tỷ độ" rồi còn gì nữa.

Rồi nữa, ai đời, vợ con đang trong lúc cơ hàn, bĩ cực không để đâu hết, thế mà "đánh đùng" một cái chỉ sau một "đêm trắng", sáng hôm sau ông ta gọi người bán ngay đàn bò tám con đang "tuổi ăn tuổi lớn". Và là niềm hy vọng chứa chan của vợ con về một tương lai không phải "giật gấu vá vai" nhờ tám con bò ấy. Có tiền bán bò cộng với món tiền vay mượn được của anh em bạn bè, Bùi Tiến Xô "rước" về một dàn chiêng cổ trong nước mắt tức tưởi của vợ con. Trần đời này, chỉ có cái lão "dở hơi" Bùi Tiến Xô mới có hành động "chả giống ai" như thế thôi!

nghệ nhân ưu tú bjuif tiến xô với những chiêng cổ vô giá.jpg -0
Nghệ nhân Ưu tú Bùi Tiến Xô với những chiêng cổ vô giá.

Đôi mắt tinh anh, trải đời của Bùi Tiến Xô chợt loang loáng nước. Hướng cái nhìn về một miền xa thăm thẳm, Bùi Tiến Xô bồi hồi trở lại với dòng hồi ức tinh khôi. Cuộc sống và văn hóa Mường là thứ mạch nguồn tự nhiên thuần khiết ngấm dần trong tâm hồn Bùi Tiến Xô từ ngày còn chưa biết thế nào là chơi khăng đánh đáo. Rồi thì đã có không biết bao đêm trời, Bùi Tiến Xô được xách cây đèn măng sông lũn cũn theo cha đi hát trong những đêm hội trong và ngoài vùng Mường Động.

Trong lúc tuổi thơ đầy hồn nhiên của một cậu bé người Mường đang lớn dần lên cùng chất thi ca và âm thanh muôn điệu, muôn lời của chiêng cồng Mường thì một bất hạnh đã xảy ra với Bùi Tiến Xô. Đó là khi người cha - "kho - tàng - văn - hóa - Mường" - của anh đột ngột qua đời. "Của để dành" mà người cha ấy để lại cho Bùi Tiến Xô chỉ đơn giản một cây đèn măng sông với chiếc chiêng Mường cổ, những câu dân ca Mường. Giấc mơ tìm kiếm kho báu của cha ông ngày một lớn dần trong tâm hồn trong trẻo thuần khiết của Bùi Tiến Xô.

Trở lại với khách cùng chiếc chiêng cổ (mà sau này tôi mới hay, chiếc chiêng đó có tuổi đời hơn 400 năm) ôm ấp trong vòng tay, bất giác Bùi Văn Xô trở nên mơ màng thi vị. Thế rồi điều bất ngờ xảy ra trong cái giây phút huyền diệu khi bàn tay của Bùi Văn Xô trịnh trọng xoa nhẹ lên cái vú chiêng. Những âm thanh của hồn thiêng núi rừng mang ngôn ngữ đặc trưng chiêng cồng xứ Mường đột nhiên bừng thức, ngân nga vang vọng trầm bổng nhặt khoan.

Nghệ nhân Bùi Tiến Xô thổ lộ, lúc người nghệ nhân xoa tay lên núm chiêng cổ ấy chính là khi anh cầu hồn (gọi) chiêng trở về. Đó là sự bí ẩn của những chiêng cổ xứ Mường. Núm chiêng chính là linh hồn của văn hóa Mường. Nơi ấy hội tụ cái phần hồn di sản của người Mường được kết tinh từ cái thuở "Đẻ Đất - Đẻ Nước". Khi người nghệ sĩ trân trọng chạm vào núm chiêng là khi di sản văn hóa Mường được nâng niu đánh thức.

Bùi Tiến Xô kể, cơ duyên đầu tiên để anh có được hai chiếc chiêng cổ đầu tiên trong đời đến vào năm 1976. Ngày đó Bùi Tiến Xô 26 tuổi. Khi ấy anh vừa cưới cô gái Mường đẹp người đẹp nết. "Tuần trăng mật" còn chưa hết, một gia đình tại bản Lác, huyện Mai Châu (Hòa Bình) xa xôi thuê Bùi Tiến Xô và những người bạn của anh dựng cho họ ngôi nhà sàn. Người vợ phấp phỏng mong những đồng tiền công làm thuê mà chồng sẽ mang về để cô có cái sắm sanh những vật dụng cần thiết cho đôi vợ chồng son.

Nhưng rồi gần ba tháng sau, thứ mà Bùi Tiến Xô "tha" về nhà không phải là những đồng tiền đẫm mồ hôi nước mắt của mình mà là hai chiếc chiêng màu đồng. Cả hai đã bị ô xi hóa. Lý do là bởi, khi thanh toán tiền công cho đám thợ, đến lượt Bùi Tiến Xô thì chủ nhà nhẵn túi đành lấy chiêng ra gán nợ cho anh.

 "Thú thật với ông, lúc đó tôi cần có tiền mang về cho vợ - Bùi Tiến Xô bộc bạch - Nhưng vừa nhìn thấy hai chiếc chiêng bị chủ nhà "hô biến" thành "chổi cùn rế rách", bỗng dưng tôi nhớ tới điều mà cha mình nói trước lúc nhắm mắt xuôi tay. Rằng, nếu không còn chiêng cồng; nếu những câu dân ca không còn trong trí nhớ của người Mường Động, Mường Vang,… thì người Mường chẳng còn là mình nữa. Nhớ lời cha dặn thì nhận chiêng gán nợ thôi chứ tôi nào đâu biết, hai cái chiêng "rách" ấy lại có tuổi đời 400 năm cơ chứ!".

nghệ nhân bùi tiến xô với các thành viên trẻ tuổi của lớp học trao truyền nghệ thuật đánh chiêng mường.jpg -0
Nghệ nhân Bùi Tiến Xô với các thành viên trẻ tuổi của lớp học trao truyền nghệ thuật đánh chiêng Mường.

 Kể từ cái đận ấy, cuộc đời Bùi Tiến Xô bắt đầu những năm tháng lặn lội "trên từng cây số" tới không chỉ mọi ngóc ngách bốn xứ Mường của tỉnh Hòa Bình. Anh đã trải qua cả một núi tướng những hỷ - nộ - ái - ố. Sau rất nhiều năm "đổ mồ hôi sôi nước mắt". Thậm chí đổ cả máu, để rồi bây giờ Bùi Tiến Xô sở hữu tới 55 chiếc chiêng cổ thuộc hàng vô giá, có "tiền tấn" cũng chẳng thể mua được. Trong đó có một chiếc chiêng có được sự phân ngôi âm thanh cực kỳ chính xác. Và điều kỳ ảo thiêng liêng vô cùng tận xảy ra ở chỗ: khi tấu lên, một mình nó hoàn toàn thay thế âm thanh cho cả một dàn chiêng Mường truyền thống.

*

Nghệ nhân Ưu tú Bùi Tiến Xô trải lòng, anh sưu tầm cồng chiêng về không phải để ngắm. Với anh, cồng chiêng được bảo tồn song không có cơ hội phát triển thì rốt cuộc, đó cũng chỉ là một thứ di sản chết, vô giá trị. Chiêng Mường phải để cho người Mường gọi hồn ông cha trở về vui với con cháu. Hồn chiêng là hồn người trao gửi cho thế gian này, với những nỗi khát khao về một tương lai tươi sáng.

Dẫu đã sở hữu mấy chục chiếc chiêng vào hàng vô giá dù vậy, nghệ nhân Bùi Tiến Xô vẫn chưa thể may mắn có được những giấc ngủ an yên. Kinh tế thị trường xuất hiện, những người biết đánh chiêng của Mường trong Mường ngoài lần lượt thay nhau đi hầu ông bà ông vải. Còn những người trẻ họ chỉ ưa thứ nhạc "chát xình chát bùm bùm" chứ nào còn mặn nồng gì với âm nhạc truyền thống.

Với nỗi bất an ngày một dày thành kén trong lòng rằng, trong tương lai nếu con cháu Mường không một ai còn biết gọi hồn chiêng thì một ngày không xa, chiêng cồng chỉ còn là một thứ "đồ thừa bỏ đi". Thế là Bùi Tiến Xô quyết định truyền dạy nghệ thuật đánh chiêng. Năm 2005, anh chọn xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi của tỉnh để mở lớp trao truyền đầu tiên.

Song việc ấy không hề dễ dàng với Bùi Tiến Xô. Kiên trì, nhẫn nại không hề biết mệt mỏi, cuối cùng Bùi Tiến Xô đã mở được ba lớp trao truyền nghệ thuật đánh chiêng với số thành viên tham gia hàng trăm người. Những "em bé quàng khăn đỏ" tuổi lên chín, lên mười tham gia lớp học của Bùi Tiến Xô không hề ít, vậy đấy!

Hàng ngày bươn chải với nghề hàn xì để góp thêm "đồng tiền bát gạo" với vợ, liên tục những năm gần đây, Bùi Tiến Xô "vô tư" nhập vai "người vác tù và hàng tổng" bằng việc tới các huyện Lạc Sơn, Đà Bắc, Tân Lạc và thành phố Hòa Bình để tìm và mở những lớp dạy cồng chiêng miễn phí. Người dạy và người học đến với nhau hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện và tự giác. Bùi Tiến Xô cũng chẳng ngại ngần "vác" những chiếc chiêng quý của mình đi cho học sinh thực hành.

Tôi bảo với Bùi Tiến Xô, "đơn thương độc mã" làm cái việc bảo tồn, phát triển di sản văn hóa Mường Hòa Bình chẳng lẽ ông không có cảm giác cô độc, lẻ bóng hay sao? Sau cái cười đầy tự tin và lạc quan, người nghệ nhân ưu tú ấy thủng thẳng dốc lời gan ruột: "Ờ thì mình hãy cứ "vô tư" làm tất cả những gì có thể vì mọi người đi. Rồi thì mọi người sẽ chia sẻ với mình thôi mà!". "Một người vì mọi người. Mọi người vì một người!". Hóa ra ngay ở cái thời 4.0 này, câu ấy chả hề "muôn năm cũ" với Bùi Tiến Xô. Mà xem ra, cái cách bảo tồn, phát triển di sản văn hóa của Bùi Tiến Xô thật đáng để tâm suy ngẫm đấy chứ? Phải vậy chăng?

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).