Người lính và huyền thoại về những thiên tình sử

Trong cái nắng vàng ruộm của ngày đầu năm mới, chúng tôi tìm gặp cựu Đại tá - nhà thơ Lê Bá Cảnh, người dệt nên huyền thoại về những danh lam thắng cảnh nơi ông đặt dấu chân qua. Nhà thơ tiếp chúng tôi trong ngôi biệt thự Pháp cổ nằm trên triền dốc cao, nép mình bên rừng thông xanh ngắt, bên hồ Than Thở bảng lảng khói sương...

Dòng hồi ức của người lính đặc công

Lê Bá Cảnh sinh năm 1941, tại Lệ Thủy, Quảng Bình (nay là Quảng Trị). Ông nhập ngũ tháng 10/1963 khi đang là giáo sinh tại Trường Sư phạm Đồng Hới, học sĩ quan Lục quân. Ông ra trường tháng 10/1965, hàm Thiếu úy, chức vụ Trung đội trưởng Tiểu đoàn 53, Sư đoàn 324, phòng thủ biên giới Việt Lào.

Từ tháng 5/1966 đến tháng 7/1969, ông làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 53, trực tiếp chỉ huy đánh các cứ điểm Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Cam Lộ, Đầu Mấu… Tháng 7/1969 ông được Quân khu cử đi học tại Trường Đặc công của Bộ Tư Lệnh 305. Khi ra trường giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 16 đặc công cơ động, hành quân từ Sơn Tây vào bổ sung cho Quân khu 5.

2.jpg -0
Nhà thơ Lê Bá Cảnh bên một số tác phẩm điêu khắc.

Theo dòng hồi ức ông nhớ lại. Khi đó xe đưa quân đến Bến Hải, giới tuyến ngăn hai miền Nam Bắc, thì cả tiểu đoàn xuống hành quân đi bộ, vượt núi rừng Trường Sơn gần tháng trời mới vào đến Trà My, Quảng Ngãi. Để thêm vững bước trên hành trình gian khổ, ông sáng tác thơ, vừa ghi chép nhật ký cho mình vừa để động viên chiến sĩ. Và những vần thơ ấy đã trở thành món ăn tinh thần cho cả tiểu đoàn trong chặng đường cam go ác liệt. "Ba lô bám chặt trên lưng/ Vẹt mòn đá núi bàn chân dạn dày/ Vai mang súng, tay bám cây/ Quân đi bạt gió lung lay núi ngàn"…

Tại Quân khu 5, Lê Bá Cảnh làm Trợ lý phòng Đặc công. Năm 1970 ông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Đặc công 403, chỉ huy đánh chi khu Thượng Đức, quận lỵ Ba Tơ, rồi chỉ huy Tiểu đoàn Đặc Công 405 đánh kho đạn Đèo Son, kho xăng Ghềnh Ráng, kho xăng Phú Hòa. Năm 1973 chỉ huy tiểu đoàn Đặc công 406 đánh quận lỵ Tam Quan, Bồng Sơn, Thiết Đính…

Người lính già với mái tóc trắng như cước nói về tháng ngày khói lửa đã qua bằng chất giọng hào sảng. Ông kể về trận đánh kho đạn Đèo Son và những trận đánh khác, trận nào cũng khốc liệt, có hy sinh có mất mát, nhưng ai cũng hừng hực khí thế, đồng lòng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh…

Khi đất nước thống nhất, Lê Bá Cảnh được điều ra Bắc với quân hàm Đại úy, làm Trợ lý tác chiến Sư đoàn 316, Quân khu 4. Tháng 9/1976 ông làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 148, Sư đoàn 316, được Quân khu cử đi học ở Học viện Lục quân. Sau khi tốt nghiệp ông ở lại làm cán bộ nghiên cứu của Học viện và sinh sống tại cao nguyên Đà Lạt. Đến tháng 1/1990 vì lý do cá nhân, ông nghỉ hưu sớm với quân hàm Đại tá.

Huyền thoại về những thiên tình sử

Lê Bá Cảnh làm thơ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thơ ca đến với ông tự nhiên như hơi thở. Ông tâm sự, có lẽ do ban đầu ông học ngành Sư phạm, lại yêu văn chương từ bé nên chữ nghĩa cứ ngấm dần vào người rồi xuất thành thơ. Ông kể, lúc hành quân vượt Trường Sơn gian khổ là vậy mà ông vẫn mang một ba lô sách vở bên mình, để những khi ngồi nghỉ, ông lại giở ra đọc.

Đến nay Lê Bá Cảnh đã phát hành 16 tập thơ, với số lượng 18.500 bản, gồm nhiều chủ đề, như "Giọt mưa xứ lạnh", "Màu hoa đất Việt", "Tiếng chim từ quy", "Không thể chờ xuân"… Nhưng có lẽ dấu ấn đậm nét mà nhà thơ Lê Bá Cảnh để lại trong lòng độc giả là huyền thoại về những danh lam thắng cảnh, từ vùng đất Lâm Đồng nơi ông sinh sống đến người "láng giềng" Khánh Hòa, rồi Quảng Bình quê hương ông.

Bằng trí tưởng tượng phong phú cùng tài năng ngôn ngữ của mình, nhà thơ đã xây dựng những thiên tình sử gắn với các địa danh, thổi hồn vào sông núi để mỗi hòn đá, dòng sông, hang động, cỏ cây đều lung linh sắc màu huyền ảo.

3.jpg -1
Một số tập thơ đã xuất bản của nhà thơ Lê Bá Cảnh.

Ông đã sáng tác 7 tập truyện thơ gồm, "Huyền thoại thác Prenn", "Huyền thoại thác Hang Cọp", "Huyền thoại hồ Than Thở", "Huyền thoại Phong Nha", "Huyền thoại thác Yang Bay", "Huyền thoại Đảo Khỉ", "Huyền thoại suối Hoa lan". Trong đó đồ sộ nhất là "Huyền thoại thác Hoa Lan" với 18 chương, 728 câu song thất lục bát.

Tốn nhiều thời gian nhất là "Huyền thoại thác Prenn" dài 632 câu lục bát, được ông sáng tác trong vòng một năm. Những truyện thơ còn lại, đều dài từ 300 đến 500 câu, thể lục bát hoặc song thất lục bát. Những vần thơ ấy, được trích đề trên các danh lam thắng cảnh, riêng "Huyền thoại thác Yang Bay" được đầu tư và dàn dựng công phu thành vở diễn phục vụ du khách.

Với "Huyền thoại thác Hang Cọp", giáo sư Lê Chí Dũng, Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ nhân văn Trường Đại học Đà Lạt, nhận xét: "là tiếng gầm thét từ ngàn xưa vọng về từ thinh không vắng lặng".

Ngỡ như
Tiếng hú đại ngàn
Hùm thiêng
Từ thuở hồng hoang vọng về

"Huyền thoại Phong Nha", nhà thơ Mưu Lê cảm nhận, "Dù chỉ là truyền thuyết, là huyền thoại lưu truyền trong dân gian, nhưng huyền thoại nào cũng đầy tính nhân văn sâu sắc và nhân bản của dân tộc Việt" .

Món quà vô giá, nhiệm mầu
Thủy cung, tiên giới ở đâu sánh bằng
Phong Nha, tạo hóa - quyền năng
Đệ nhất động, chốn vĩnh hằng - trường sinh
Diễm phúc thay, đất Quảng Bình
Gươm thần, động thánh vẹn tình muôn xuân

Để dựng nên những huyền thoại, có nơi ông dựa vào câu chuyện hoặc tên gọi lưu truyền trong dân gian như "Huyền thoại Phong Nha", "Huyền thoại thác Yang Bay", hoặc dựa vào yếu tố lịch sử như cuộc xâm lược của người Chăm lên đất Đà Lạt trong "Huyền thoại thác Prenn". Có những huyền thoại hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng và sự sáng tạo của nhà thơ như, "Huyền thoại đảo khỉ", "Huyền thoại suối Hoa Lan".

Bảy tập truyện thơ là bảy câu chuyện gắn với tình yêu nam nữ, là những nhân vật trung tâm của truyện, nhưng cốt truyện và tình tiết, diễn biến đều hoàn toàn khác biệt, không truyện nào trùng lặp, thậm chí không câu nào lặp lại trong hơn ba ngàn câu thơ.

Nhà thơ Phạm Vũ nhận xét về ông: "Đề tài về sự tích, huyền thoại muôn màu muôn vẻ, đáng cho chúng ta dành trọn cuộc đời để đi, để tìm hiểu và viết. Lê Bá Cảnh đang cần mẫn cày xới trên mảnh đất màu mỡ của huyền thoại và sự tích đã để lại nhiều dấu ấn đáng trân trọng" .

Ông già cao nguyên

Lê Bá Cảnh tự nhận mình là một lão nông, là ông già cao nguyên. Mảnh vườn của gia đình do chính tay ông vỡ vạc, biến đất hoang thành vườn tược xanh tươi. Hiện ông đã ngoài bát tuần, chân yếu tay run, vậy mà hàng ngày ông vẫn dành trọn buổi sáng để làm vườn, sống cùng thiên nhiên cây cỏ. Nhờ làm vườn, ông thu nhặt thân cây, rễ cây tưởng chừng bỏ đi, bằng óc sáng tạo và bàn tay tài hoa biến chúng thành những bức tượng điêu khắc gỗ sống động.

Bước vào nơi ông sống, chúng tôi như bước vào một bảo tàng tượng, đặt từ ngoài vườn đến từng góc nhà. Mỗi bức tượng là một câu chuyện kể về lịch sử, về nhân tình thế thái... Tác phẩm điêu khắc của ông từng tham dự các cuộc triển lãm của tỉnh Lâm Đồng.

Ông giới thiệu với chúng tôi một số tác phẩm mà ông tâm đắc. Đó là "Bà Triệu cùng voi ra trận", "Chất độc da cam - nỗi đau nhân loại", "Tiến lên", "Bến đợi"…

Những tác phẩm thơ, điêu khắc cùng những câu chuyện thời chiến đấu của ông cứ cuốn lấy chúng tôi. Đến khi cảm nhận cơn gió lạnh ùa vào, tôi dõi mắt ra ngoài khung cửa mới hay nắng đã tắt, sương đã giăng trắng núi đồi. Nhà thơ tiễn chúng tôi ra về với nụ cười hào sảng. Nụ cười của một người đã đi qua những thăng trầm, sướng khổ. Nụ cười mãn nguyện vì đã dành trọn cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho quê hương.

Hoàng Ngọc Thanh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).