Kỷ niệm ngày truyền thống bộ đội Biên Phòng 3 tháng 3

Người lính - tình yêu và hồn dân tộc

Nhân đọc trường ca “Sa mộc” của Phạm Vân Anh, NXB Lao Động, 2016.

Phạm Vân Anh xuất hiện trên văn đàn khá sớm, chị sinh năm 1980 và đến năm 2004 đã cho ra mắt tập thơ đầu tay có cái tên khá ấn tượng là “Tôi chào tôi”.

Với cảm nhận của riêng tôi, tập thơ đầu tay của Phạm Vân Anh cũng chỉ mới dừng lại ở một câu chào như những câu chào khác của những người khác, nó dễ lẫn vào bao câu chào của những người mới đến, nhưng đến năm 2006 chị tiếp tục cho ra mắt độc giả tập thơ thứ hai có tên gọi “Mùa tình” thì nhà thơ xe ôm Tạ Văn Sỹ ở tít tận trong Tây Nguyên đã phải viết trên tờ báo Văn nghệ trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam thế này: “Ở mỗi người thơ đều có một cõi tâm linh, cảm thức và phong cách riêng.

Thi nhân nào lúc khởi đầu tạo được một âm sắc riêng, một vùng – khí - hậu - thơ riêng… thì thường là những trí -lực - thơ, bản – lĩnh - thơ dễ khiến bạn đọc đặt niềm tin vào cuộc hành trình ở phía sau xa. Giữa trùng trùng vây bủa của thế hệ mình… Phạm Vân Anh cứ lặng lẽ quay về xới tìm trong mạch nguồn tâm thức ngàn đời của hồn dân tộc…”.

Và Tạ Văn Sỹ đã đúng, đến tập thơ thứ hai thì Phạm Vân Anh không còn bị lẫn vào những người khác, chị đã có con đường riêng của mình, đó là người lính, tình yêu và hồn dân tộc. Có phải vậy chăng mà Phạm Vân Anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam khi chị còn khá trẻ, trẻ trong nhóm hội viên trẻ nhất lúc bấy giờ (năm 2009). Nhưng phải đến khi chị cho ra mắt tập trường ca mới nhất có tên “Sa mộc” do NXB Lao Động ấn hành năm 2016 thì con đường riêng của Phạm Vân Anh mới được thể hiện đầy đủ.

Thú thực khi cầm trên tay tập trường ca “Sa mộc” của Phạm Vân Anh, tôi sợ là đang chuẩn bị đọc một bài thơ dài lê thê được tác giả gắn cho nó cái tên khó nhằn, dài hơi là trường ca, nhưng may thay, điều lo sợ đó đã không đúng. “Sa mộc” đúng là trường ca với bảy chương hoàn chỉnh.

Với vốn sống của hơn mười năm gắn bó cùng Bộ đội Biên phòng, với những dải đất biên cương và đồng bào các dân tộc đang ngày đêm giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Chương một của trường ca “Sa mộc” đã dẫn chúng ta đi trong những huyền thoại của “Miền biên dã”, đây là những câu chuyện huyền thoại, dã sử, cổ sử… về những vị thần, những nhân vật kiến tạo nên vùng đất, con người, cảnh sắc… của miền biên viễn, như những cây sa mộc đã đứng đó cả ngàn năm, vạn năm. Sa mộc là người dân, người lính, vị thần, là đất đai, là hồn cốt của cha ông còn đọng lại giữ nhịp sinh sôi.

Ngay câu đầu, câu đề từ của trường ca, Phạm Vân Anh đã viết: “Ông Đếm cát, ông Tát bể, ông Kể sao, ông Đào sông, ông Xây rú...”/ Chuyện xửa xưa bà kể thắm môi trầu”. Khi đã đi qua miền dã sử: “Miền dã sử tôi qua/ Vùng Đất Tổ bao sắc dân thiểu số/ Vầng trán mẹ hoài chứa ngàn huyền thoại/ Chia vào tôi tình cảm mến thương”.

Đi qua những huyền thoại, đất đai thấm đẫm tình cảm mến thương của miền biên viễn, người đọc sẽ nhận được những lời “ký thác” trong từng con chữ của chương hai, đó là: “Máu của cây hay máu người yêu nước/ Ngàn năm giữ nước/ Dâu bể thăng trầm/ Chốn tiền đồn xanh rạng chiến công/ Đỏ âm thầm cương vực”.

Máu của cha ông đã thấm đỏ miền biên ải, máu và xương đã xây thành đồn lũy chống quân thù, người xưa và cả người nay, lớp cha trước lớp con sau, sẵn sàng lấy máu và xương của mình để giữ vẹn nguyên rừng và biển và đất đai tổ tiên ông bà. Đến chương ba có tên “Thang trời”: “Tuần hoàn đời cây/ Bước thế tục đời người canh biên ải”.

Nối tiếp mạch văn của chương hai, nhưng khắc họa sâu hơn, đẹp hơn những con người vùng biên viễn hôm nay khi được hấp thụ những tinh hoa của cha ông ngàn năm giữ nước. Vẻ đẹp của họ được thể hiện qua những mối tình quân dân một ý chí, vẻ đẹp qua những nhường áo sẻ cơm, vẻ đẹp qua cảm thức mọi người cùng chung một nhà, cùng từ một “bào” sinh ra và cốt lõi của chương này vẫn là ý chí quyết tâm nắm chặt tay nhau để giữ gìn miền biên ải.

Từ âm hưởng sử thi đến anh hùng ca và khi đọc đến chương bốn, người đọc như thấy mình vừa đi qua một cánh rừng với nhiều huyền thoại, huyền sử, huyền tích… và giờ đây trước mắt đã trải rộng man mác biển trời. Biên cương không chỉ có rừng mà còn có biển và có cả trời.

Chương bốn có tên “Mưa giêng hai” như một khúc trầm qua câu chuyện tình của những người đã khuất, họ ngã xuống cho đất đai xứ sở, những người lính hôm nay vẫn phải: “Lũ chúng con/ Cầm mùa trăng đi qua phù sinh/ Cầm tuổi mình đi qua chiến tranh/ Lớn vội lớn vàng cho thanh tân Tổ quốc”. Chính những người lính từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà họ dám hi sinh cả tuổi xuân mình để cho Tổ quốc mãi mãi được “thanh tân”.

Có sự hi sinh nào lớn lao hơn là hi sinh tuổi trẻ, hi sinh mạng sống, hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự vẹn nguyên và trường tồn của dân tộc!?

Nhưng như đại thi hào Nguyễn Du đã viết: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Họ ngã xuống nhưng linh hồn họ mãi gắn bó với rừng, với biển, với non sông đất nước này. Sống là người giữ biên cương thì chết đi cũng làm linh hồn trấn giữ biên cương.

Và mùa đông về: “Mẹ nhìn trời biết nơi con trở rét/ Nén hương xa…/ Không ấm kịp lạnh gần/ Chim Khảm Khá mổ hạt cườm lích chích/ Đậu rồi bay trên sương tuyết chốn con nằm”.

Có nỗi đau nào hơn nỗi đau của người mẹ mất con? Nhưng sẽ có nhiều người mẹ đau hơn, nhiều gia đình li tán, nhiều nhân phẩm bị chà đạp, nhiều giá trị bị đổi thay khi mất đi Tổ quốc. Vì: “Đất nơi này không thể mất/ Cho kẻ giành sông giật núi đã quen”. Vì sự trường tồn của Tổ quốc mà mẹ nhận nỗi đau riêng mình.

Giống như chương ba là sự nối dài của chương hai thì chương năm là sự nối dài của chương bốn nhưng được đẩy lên cao trào những chiến công và những mất mát hy sinh, những chia ly, lỡ nhịp tình yêu. Những linh hồn, những người lính mãi trẻ “gối đầu lên ban mai”, lên tuổi trẻ của chính mình để mà kê cao thềm Tổ quốc, dù có phải “tàn giấc mơ yêu lỡ mùa”.

Trong chương này thỉnh thoảng người đọc bắt gặp những câu lục bát ngắt nhịp có nghề và có duyên:“Rừng đi lá lạnh tàn sương/ Cho trăng tàn cốm/ Cho tường xanh rêu/ Ngày đi bóng đổ tàn chiều/ Để ta tàn giấc mơ yêu lỡ mùa/ Người đi trong nỗi bơ vơ/ Câu hời của mẹ đang chờ cuối song/ Cáy cua tấp tểnh bên lòng…/ Trôi theo thác lá/ Xoay vòng nhân gian”.

Qua những mất mát, đau thương, những chiến công, những tàn phá thì nay rừng xanh đã lành lặn vết thương, và trai gái lại cùng nhau say rượu, say tình, say thuốc, say điệu kèn, câu hát trong những ngày lễ hội. Để cho biên cương không còn xa xôi, biên cương ấm tình quân dân.

Họ dặn nhau bằng những triết lý rất riêng trong mùa lễ hội: “Tổ tiên đã bao đời vịn đá/ Mất biên giới, mất quê hương ta thành người hành khất/ Minh triết núi rừng giản dị có vậy thôi” –  “Vút vói thanh điệu/ Trai gái hòa tiếng rừng trong nhịp đấm/ Chiêng ông bà dặn Tổ quốc là gốc/ Chiêng bố mẹ khuyên quê hương là nền/ Chiêng cháu con say bước chân mở đất”.

Từ yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển của đất nước mà người lính Biên phòng khi thuộc sự quản lý của Bộ Công an và khi lại dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng, nhưng dù dưới sự quản lý của cơ quan chủ quản nào thì những người lính Biên phòng vẫn là những người lính mà cuộc sống của họ luôn gắn liền với những vùng đất, vùng biển xa xôi nhất của Tổ quốc.

Dù biên cương nay vẫn còn nhiều thiếu thốn khó khăn, nhưng ở đó, những lính Biên phòng, những người dân miền biên viễn vẫn đang ngày đêm canh giấc cho Tổ quốc được bình yên, họ thức để cho Tổ quốc không bị bất ngờ. “Lang thang miền dã sử/ Gọi ngàn năm mây bay/ Sa mộc đêm chốt lạnh/ Thức cùng non sông này”. Chương cuối Phạm Vân Anh muốn nói lên điều đó.

Với gần 1.000 câu thơ, Phạm Vân Anh đã phác họa nên được một bức tranh khá đủ đầy về cả một quá trình dài của những con dân đất Việt – Những người đã gắn bó với biên cương từ thời kỳ dựng nước đến thời kỳ giữ nước, từ trong chiến tranh cho đến ngày hòa bình... 

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).