Người giữ cảng Cam Ranh

Cảng Cam Ranh tên cũ là sông Ba Ngòi thuộc phường Cam Linh, phía Bắc cách Phan Rang 40km, phía Nam cách Nha Trang khoảng 60km. Cam Ranh nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam, có quốc lộ 1A đi qua thành phố trên 40km và có sân bay quốc tế Cam Ranh với đường băng dài hơn 3.000m.

Ngày 23-12-2010, Cam Ranh được Chính phủ chính thức công nhận là thành phố gồm 9 phường và 6 xã với diện tích 316km2, dân số là 125.311 người (theo số liệu 2009) trực thuộc tỉnh Khánh Hòa. Cam Ranh đã được sự chú ý qua các thời Pháp, Nhật, Mỹ và Liên Xô bởi vị trí chiến lược, dùng làm căn cứ quân sự.

Với đặc điểm là một cảng nước sâu phổ biến từ 16-25m, nơi sâu nhất đến 32m, có nhiều đảo nhỏ bao quanh; cửa ra vào lại hẹp, nhưng bên trong rộng với tổng diện tích mặt nước là 98km2, cho phép 40 tàu chiến cỡ lớn, kể cả tàu sân bay có thể neo đậu. Vì thế Cam Ranh được coi là cảng tốt nhất Đông Nam Á và là một trong ba vịnh tốt nhất thế giới: Cam Ranh, Francisco (Mỹ), Rio De Janeiro (Brazil).

Thời thuộc Pháp, người Pháp dùng Cam Ranh làm căn cứ Hải quân ở Đông Dương. Đầu thế kỷ XX, Cam Ranh là chặng nghỉ chân cho Hạm đội của Đế quốc Nga sang Viễn Đông giao chiến với Nhật. Hạm đội này của Nga đã bị đại bại trong trận Tsuskima. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, người Nhật đã dùng Cam Ranh làm địa điểm chuẩn bị cho cuộc tiến công Malaysia năm 1942.

Trong chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh là căn cứ của Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Năm 1966, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson thăm Cam Ranh; trong chuyến thăm này, báo chí Mỹ đã hết lời ca ngợi Cam Ranh: “Ai chiếm được Cam Ranh, có thể kiểm soát được tuyến đường vận tải Á – Âu, có được vị thế bá quyền thắng lợi?”. Và người Mỹ đã chi hơn 300 triệu đôla để mở rộng cảng Cam Ranh.

Năm 1975, nước ta thống nhất. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ nên Việt Nam tạm cho phép Liên Xô lập căn cứ Hải quân cho Hạm đội Thái Bình Dương của họ. Năm 1978, Chính phủ Liên Xô chính thức ký một thỏa thuận với Việt Nam thuê cảng Cam Ranh với thời gian 25 năm.

Trong thời gian này, phía Liên Xô đã làm một số việc tùy tiện như khai thác đá ở các núi trong vịnh… không xin ý kiến và trao đổi với phía Việt Nam. Nhận được tin, Tướng Lê Đức Anh với cương vị là Tổng tham mưu trưởng lập tức tới Cam Ranh. Sau khi thị sát, ông phê bình: “Để họ làm thế này thì đây sẽ bị sa mạc hóa. Không được”. Ông nói tiếp: “Mỗi cục đá ở đây phải quý như một cục vàng”.

Về tới Hà Nội, Tướng Lê Đức Anh báo cáo với Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bộ Chính trị, kiên quyết không cho phía Liên Xô phá núi lấy đá và khai thác cát trong vùng vịnh. Trưởng đoàn chuyên gia và tùy viên quân sự Liên Xô phản đối. Tướng Lê Đức Anh nói: “Tôi sẽ đảm bảo có đá cho các anh” và ông cho phép mở con đường dài 30km vào mỏ đá trong đất liền, phía Liên Xô và người dân rất phấn khởi.

Đồng chí Lê Đức Anh trong một chuyến thị sát Quân cảng Cam Ranh. Ảnh tư liệu.
Đồng chí Lê Đức Anh trong một chuyến thị sát Quân cảng Cam Ranh. Ảnh tư liệu.

Cũng trong thời gian này, tình hình biên giới phía Bắc nước ta vô cùng nóng bỏng, có những “trọng điểm” Tướng Lê Đức Anh mới chỉ tới hai lần. Nhưng với Cam Ranh, ông đã thị sát tới bốn lần bởi trong mắt Tướng Lê Đức Anh, vị trí Cam Ranh vô cùng quan trọng trong hiện tại cũng như tương lai. Nó gắn liền tới sự tồn vong và thịnh vượng của đất nước sau này.

Theo ông: Cam Ranh là vị trí chiến lược, một khu vực phòng thủ then chốt của miền Trung và của cả nước là căn cứ bảo vệ cả một vùng biển rộng lớn và quần đảo Trường Sa…

Tướng Lê Đức Anh trăn trở, tìm mọi cách thuyết phục các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta, thu hồi bằng được cảng Cam Ranh càng sớm càng tốt.

Bằng cách nào để thu hồi cảng Cam Ranh một cách êm thấm? Bởi trước đây Tổng Bí thư Lê Duẩn và Tổng Bí thư Brê-giờ-nép Liên Xô đã ký “Hiệp định đoàn kết và hợp tác toàn diện”, những gì đã ký kết thì hai bên phải tôn trọng. Lúc này với cương vị là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh nghiên cứu kỹ “Hiệp định” xem chỗ nào “sơ hở” để tháo gỡ.

Thấy trong “Hiệp định” không có chỗ nào nói đến “hạt nhân”, tên lửa… Đại tướng Lê Đức Anh nói thẳng với Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô về quan điểm của mình. Đại sứ Liên Xô điện về nước… Trung ương Đảng Liên Xô điện sang nên mọi việc êm dần. Khi Liên Xô tan rã, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Nga thay thế, tiếp tục “Hiệp định”, duy trì sự có mặt của họ ở cảng Cam Ranh.

Mặc dù biết “Hiệp định” còn thời hạn tới năm 2004, nhưng được sự nhất trí của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đại tướng Lê Đức Anh lúc này với cương vị là Chủ tịch nước đã chỉ đạo Bộ Quốc phòng và các cơ quan Nhà nước tiến hành trao đổi một cách kiên trì, mềm mỏng, khôn khéo để phía Nga tự rút, trao lại cảng Cam Ranh cho Việt Nam trước thời hạn.

Ngày 2-5-2002, lá cờ Nga được hạ xuống lần cuối cùng tại căn cứ Cam Ranh. Thấy vậy, Đại tướng Lê Đức Anh nói: “Các anh rút, chúng tôi chỉ xây dựng cảng cho Hải quân Việt Nam sử dụng, chứ nhất định không cho bất cứ nước nào vào đây thuê. Tôi cam đoan như vậy”.

Sau khi Nga rút, Hoa Kỳ vận động thông qua vài nước ASEAN để thuê quân cảng Cam Ranh. Phía ta nói rõ: “Việt Nam không cho ai sử dụng quân cảng của mình”. Nghe vậy, các nước ASEAN rất vui và Trung Quốc, Nga, Mỹ cũng yên tâm.

Quan điểm dứt khoát của Đại tướng Lê Đức Anh là phải tạo được thế cân bằng giữa các cường quốc với Cam Ranh, không chỉ có lợi về kinh tế, quân sự; mà còn là bàn đạp nâng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Quan điểm này của ông đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta nhất trí, duy trì thực hiện và phát triển hoàn thiện thành chủ trương nhất quán hôm nay: “Cảng Cam Ranh là cơ sở làm dịch vụ hậu cần cho tất cả các nước trên thế giới trên tinh thần bình đẳng. Chủ quyền là của Việt Nam, và Việt Nam có khả năng kiểm soát tình hình. Hoàn toàn không có chuyện cho nước ngoài làm căn cứ quân sự hay căn cứ hậu cần kỹ thuật ở cảng Cam Ranh”.

Nhờ vậy, mấy năm qua tàu quân sự của các nước đã thăm Cam Ranh như: Mỹ với tàu tên lửa USS John S.McCain và tàu tiếp tế tàu ngầm USS Fran Cable cùng Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương do Đô đốc Harry B.Harrit thăm Việt Nam đã tái khẳng định cam kết song phương và nâng cao năng lực của Việt Nam; đặc biệt là an ninh hàng hải và thực thi pháp luật. Tiếp đó là tàu của Ấn Độ, Pháp, Nga, Singapore, Australia.

Ngày 5-11-2015, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhật Bản Nakatani thăm cảng Cam Ranh, tháng 4 và tháng 5 vừa qua, tàu hộ vệ và tàu quét ngư lôi của Nhật cùng tới. Đáng lưu ý là gần đây 3 tàu của Trung Quốc: Xiang Tan, Zhou Shan, Chao Hu lần đầu tới Cam Ranh do Đại tá Vương Hồng Lý, Phó tham mưu trưởng Hạm đội Đông hải làm trưởng đoàn (từ 22 – 26 tháng 10 năm 2016).

Để có được cảng Cam Ranh như ngày nay: Tiếp nhận được tàu sân bay trọng tải 110.000 DW (dead weight tonnage) và tàu khách có dung tích 100.000 GRT (goosstonnage) cũng như cùng một lúc tiếp nhận 18 tàu… và cho phép tàu neo đậu trong điều kiện bão đến cấp 8; biết bao xương máu của đồng bào chiến sĩ ta đã đổ; biết bao tiền bạc của nhân dân cả nước đã bỏ ra; biết bao công sức của thế hệ cha anh, trong đó có công lao của Đại tướng Lê Đức Anh góp một phần không nhỏ để có được một CAM RANH VIỆT NAM bề thế, vững chắc, một Cam Ranh kiêu hãnh, hòa bình, hữu nghị, một Cam Ranh sẵn sàng, nếu…

Gà đã gáy, mặt trời lên!

Năm mới bắt đầu với bình minh trên cảng Cam Ranh!

Xuân Đinh Dậu 2017

Ánh Hồng

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.