“Người gieo hạt” kết tinh những giá trị nhân văn

Tuyển tập thơ “Người gieo hạt” do NXB Hội Nhà văn vừa ấn hành tháng 12/2025 gồm 640 trang khổ rộng, được chọn từ hơn 1.500 bài dự thi của 346 tác giả. Tác phẩm là sự kết tinh hạt giống giá trị nhân văn sâu sắc.

Ra đời từ cuộc thi thơ độc đáo ở một ngôi làng

Làng Chùa - tên nôm của làng Hoàng Dương thuộc xã Hòa Xá, Hà Nội - ngôi làng độc nhất ở Việt Nam về truyền thống thơ ca. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người con của làng đã viết về người làng mình: “Họ làm thơ như một lẽ sống giản dị từ hàng trăm năm nay, như họ đã cày cấy và gieo trồng, như họ đã khổ đau và hạnh phúc, như họ đã sinh ra và biến mất trên chính đất đai của họ… Những người nông dân làng tôi làm thơ để được sống, được bày tỏ và chia sẻ trong những ngôi nhà hai mái giản dị của họ chứ đâu để đợi chờ việc khen chê. Chính vì thế mà họ truyền tình yêu thơ ca từ đời này đến đời khác như truyền cách yêu con người, yêu đất đai, yêu công việc cày cuốc và gieo hạt” (Về những người nông dân làm thơ).

Người làng Chùa có tập quán và những nét văn hóa riêng. Cụ thủ từ đình làng Ngô Hữu Lộ (71 tuổi) cho biết: “Trong khi ở nhiều nơi, hội làng là người ta mổ lợn, uống rượu, vui chơi, thậm chí có cả đánh bạc, còn hội làng nơi đây, tại ngôi đình - nơi kết tinh văn hóa cộng đồng làng xã - người ta đốt trầm, đọc thơ. Từ trăm năm trước, làng đã có tao đàn thơ. Chiến tranh làm lắng xuống để người làng dồn sức cho tiền tuyến, khi đất nước hòa bình thống nhất, tình yêu thơ của dân làng lại tiếp tục dòng chảy”.

-nh 1 bìa tuy-n tho ngu-i gieo h-t.jpg -0
Tuyển tập thơ “Người gieo hạt”.

Hội thơ làng Chùa chính thức thành lập từ năm 1982. Năm đó, thi sĩ tài danh Phạm Tiến Duật về làng nói chuyện thơ, gần như cả làng mang đèn dầu ra sân đình ngồi nghe say mê - bấy giờ chưa có điện. Đêm ấy, rất nhiều người dân đã thức bởi như gặp được bậc tri âm, tri kỷ.

Người làng Chùa từ bao đời nay truyền dạy nhau nhiều câu minh triết về cuộc sống như: “Mất nửa đời học làm thơ, mất cả đời học làm người”. Từ trẻ tới già, rất nhiều người làng Chùa biết làm thơ, sáng tác thơ trong nhiều hoàn cảnh và dùng thơ làm phương tiện giao tiếp. Sau hai cuộc thi vào năm 2007 và năm 2022, cuộc thi "Thơ ca và nguồn cội" lần thứ 3 do Hội thơ làng Chùa tổ chức.

Ông Ngô Mạnh Cường, (70 tuổi, giáo viên hưu), Chủ tịch hội thơ của làng cho biết: “Cuộc thi năm 2025 đã thu hút hơn 500 tác giả khắp mọi vùng miền ở Việt Nam, trong đó có không ít nhà thơ nước ngoài tại Hoa Kỳ, Palestine, Colombia, Đài Loan (Trung Quốc)... dự thi”.

Nhan đề tác phẩm đã thu hút người đọc bởi giá trị tinh thần thơ ca mang đến cho con người. Bìa sách được trình bày trang nhã với gam màu vàng của mùa màng, màu nâu đất của giản dị, khiêm nhường, màu xanh của hy vọng và niềm tin cùng rất nhiều hạt giống trên nền đất... hàm chứa tính minh triết, đúng như người làng Chùa từng nói: “Thơ ca không làm ra lúa vàng gạo trắng nhưng làm ra giấc mơ cho người gieo trồng”. Đọc tập thơ “Người gieo hạt”, mỗi người thấy tâm hồn mình được bồi đắp những lớp phù sa cảm xúc khiến con người giàu có lên nhiều.

Tình yêu sâu nặng với nguồn cội, “giữ riêng mình một căn cước làng quê”

Đến với khu vườn thấm đẫm tình quê, tình người trong ấn phẩm, bạn đọc cùng thương nhớ "Cố hương" với Huỳnh Trâm, với Trần Chấn Uy, được hiểu "Một cõi quê hương" của Viên Nguyệt Ái, biết đến"Nỗi quê" của Trần Kế Hoàn, "Quê nhà" của Đỗ Thu Hằng, hiểu thêm về "Làng tôi" của Nguyễn Đình Ánh.

Không những yêu làng quê mình, các cây bút còn nhận diện ra giá trị của làng quê Việt qua những trầm tích văn hóa mà người thường khó thấy được như "Hồn tre" của Ngô Đức Hành, "Cổng làng" của Thanh Trắc Nguyễn Văn, "Chiêng cồng - Lời của cha ông" (Chung Tiến Lực), "Hồn quê" (Đỗ Chiến Thắng). "Giếng làng" (Nguyễn Thị Minh Hồng), "Sỉn Chèng" (tên một làng của Vàng A Giang - Lào Cai).

Người làm thơ có những cái nhìn độc đáo về nơi mình sinh ra, mảnh đất nơi mình chôn nhau cắt rốn, nơi mà Nguyễn Thanh Hải cho rằng: “Trong tâm hồn mỗi người, ai cũng giữ riêng mình một căn cước làng quê”.Với bài "Màu quê hương", Nguyễn Thị Khánh Linh viết: “…Cả trăm màu nay chỉ còn màu nỗi nhớ/ Về quê hương, nơi con gọi là nhà”. Tác giả Huy Trụ lại khẳng định: “Đi cùng khắp biển trời Tây/ Tiếng làng hồn vía vẫn đầy cố hương” (Tiếng làng).

Thơ của các tác giả: Kiều Duy Khánh (Sơn La), Hà Sương Thu (Bắc Cạn), Hà Hồng Hạnh (Thái Nguyên) in đậm màu sắc núi rừng, chất văn hóa của đồng bào vùng cao. Hình thức thể hiện thơ của những cây bút trẻ ấy đa phần theo thể tự do, phóng khoáng, hợp với nếp nghĩ của người trẻ.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến phát biểu: “Tình yêu quê hương trong các tác phẩm không chỉ là tình cảm cá nhân mà còn là tiếng nói chung của cộng đồng, của văn hóa dân tộc... khẳng định quê hương là bản thể, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn”.

Thân thương, ấm áp tình cảm gia đình và con người là nguồn cảm hứng đậm nét trong tập thơ. Nhớ thương về ngôi nhà thân thuộc - cội nguồn bến đỗ bình yên, quan trọng nhất đời người là nỗi niềm xuyên suốt nhiều áng thơ. Những ký ức về người thân, về tình cảm máu chảy ruột mềm luôn là kỷ niệm lung linh trong tâm hồn những người con đi xa.

Đọc các bài: "Mẹ" của Nguyễn Duy Xuân, "Chuỗi cườm của mẹ" của Châu Anh Tuấn, "Ngày mẹ sinh tôi" của Lý Hữu Lương, "Ngày mẹ sinh" của Trịnh Hoàng Nghi, "Mẹ tôi đi chợ" của Lê Văn Sự, "Đàn gà vàng trong giấc mơ vàng - tặng má kính yêu" của Triều La Vĩ hay "Ngón tay mẹ và gốc rạ" của Lâm Cẩn... người đọc thật sự xúc động bởi tình mẹ vô cùng bình dị mà thiêng liêng. Các bài "Gửi cha" (Trang Thanh), "Bà tôi" (Nguyệt Phượng Yên Sơn), "Ao của ông nội" (Hiến Văn), "Chị tôi" (Võ Tấn Quờn)... khiến người đọc càng thêm trân quý tình cảm thân thương gia đình.

Tác giả Nguyễn Văn Quân trong “Nghe mình hát khúc sông quê” không chỉ đưa người đọc đến với những ký ức thời chăn trâu thổi sáo và “Tắm tiên ở khúc sông nhà/ Lọ lem bùn đất phôi pha mục đồng/ Quê nghèo lam lũ ven sông/ Rau lang rau má trên đồng nuôi anh” mà còn tự nhủ mình và mọi người nhớ ơn đấng sinh thành đã khuất bóng: “Giờ đây khi trở về nhà/ Khúc sông còn đó, mẹ cha khuất rồi… Dấu chân đâu mẹ đâu cha/ Anh mò tìm lại xót xa một thời” (tr 394).

Thơ của Nguyễn Thị Phú “Nói với con dâu” nhưng cũng là nói với mình và bạn đọc những lời tâm sự gan ruột: “Con về làng mình sẽ thấy/ Tình người tình đất thảo thơm/ Sống ở làng mẹ thấm đẫm/ Tình làng nghĩa xóm sắt son”. Đọc “Nước mắt làng Nủ” của Phạm Thanh Phương, chúng ta càng trân quý tình nghĩa đồng bào “Thương người như thể thương thân”, dòng chảy truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam tự bao đời nay.

Niềm tin bất diệt vào cuộc đời và nghị lực sống

Đọc thơ của các cây bút Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Ngọc Hưng, Vũ Đức Nguyên, Én Nhỏ (Huỳnh Thanh Thảo), người đọc không chỉ thấy tình người chứa chan nhân ái mà còn như được tiếp thêm nghị lực sống bởi những tâm hồn khỏe mạnh và những cuộc vượt thoát số phận đáng phục.

Viên Nguyệt Ái cho dẫu số phận thiệt thòi vẫn tha thiết yêu quê hương: “Bồng bềnh một cõi quê hương/ Chưa xa đã khắc khoải thương tận cùng” (tr 570). Én Nhỏ (sinh 1986 - Ấp Ràng, Củ Chi) dù bản thân bị nhiễm chất độc dioxin nhưng em vẫn quên cảnh ngộ mình để quan tâm, giúp đỡ người khác, tìm thấy cảm hứng cả trong những ngày bão Yagi hung tợn: “Bão tan đời sẽ tái sinh/ Vết thương liền lại yên bình ghé qua/ Thiên nhiên trời đất bao la/ Trẻ em sớm được hát ca giữa đời” (tr 296).

Một điều thú vị khác ở tuyển thơ là không chỉ được thưởng thức thơ của các tác giả Việt Nam, nhờ sức mạnh kỳ diệu của của thơ ca có “khả năng xuyên biên giới”, vượt qua thách thức rào cản ngôn ngữ nên người đọc còn được tiếp xúc với thơ của hàng chục nhà thơ quốc tế.

Nhà thơ nổi tiếng Tưởng Vy Văn (Đài Loan) với bài “Thi sĩ cánh diều”, Trần Chính Hùng (Đài Loan) với “Thăm lại quê xưa” (tr 608) rất gần gũi với nếp cảm, nếp nghĩ của người Việt. Đọc tác giả Marius Chelaru (Romania) qua bài “Về làng” đã làm sống dậy những kỷ niệm xưa nơi cố hương yêu dấu, nơi giờ chỉ là những hoài niệm và ký ức “Làng hoang lạnh mênh mông/ Cùng những nấm mộ của ông bà/ Với tuổi thơ/ Giờ giống như một món đồ cầm cố” (tr 598)...

Tuyển tập thơ “Người gieo hạt” thêm một lần nữa cho chúng ta thấy vẻ đẹp kỳ diệu của thơ ca. Thơ là tiếng nói trung thành nhất của cảm xúc, có khả năng mang đến ánh sáng, tình yêu, nghị lực, giấc mơ khát vọng và sự rung cảm trái tim cho con người.

Nguyễn Thị Thiện

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.