Người dịch ‘Hịch tướng sĩ’ của Trần Hưng Đạo ra thơ

"Hịch tướng sĩ" là bản thiên cổ hùng văn của dân tộc ta, thể hiện quyết tâm chống giặc ngoại xâm và nêu cao khí tiết, tư tưởng yêu nước thương nòi của Trần Hưng Đạo, người viết bài hịch này. Nguyên văn bài hịch bằng chữ Hán và đã được dịch đưa vào giảng dạy trong nhà trường để giáo dục, hun đúc cho thế hệ sau lòng yêu nước và tinh thần tự chủ, quật cường của cha ông ta. Có một điều thú vị là một người đã dịch bài hịch này ra thành bài thơ dài. Người đó là nhà thơ Phạm Thiên Thư. 

Lai lịch của bài "Hịch tướng sĩ"

Như chúng ta đã biết, bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo ra đời vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Theo những tài liệu lịch sử, tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng: "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?", Hưng Đạo Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!".

Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng. Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân, và thảo bài "Dụ chư tỳ tướng hịch văn" (thường gọi là "Hịch tướng sĩ") để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách "Binh thư yếu lược", chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai. 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư.

Xin trích một đoạn trong bài "Hịch tướng sĩ" đã được dịch: "Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước….

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm....".

Những dòng chữ hừng hực khí thế, chứa chan tâm huyết và tình cảm của bài hịch đã khích lệ, làm bừng lên hào khí  của dân tộc ta, góp phần vào những chiến công chống quân Nguyên Mông. Người đời sau, trong đó có các sử gia, nhà văn, đánh giá cao giá trị và ý nghĩa, tác dụng to lớn bài hịch này. Một trong số đó là ý kiến của nhà văn Ngô Tất Tố và sử gia Trần Trọng Kim. Nhà văn Ngô Tất Tố cho rằng: "Bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn cho thấy, tuy Hưng Đạo Vương là võ tướng, nhưng ông có tài học, có đọc nhiều sách và thông hiểu nhiều điển tích cổ kim". Còn trong cuốn "Việt Nam sử lược", sử gia Trần Trọng Kim đánh giá: "Binh sĩ nghe lời hịch nức lòng, lấy mực xăm vào tay hai chữ  "Sát Thát" (nghĩa giết quân Mông Cổ), và hết lòng chiến đấu chống giặc".

Đến bản dịch "Hịch tướng sĩ" ra thơ

Ngưỡng mộ Trần Hưng Đạo, yêu mến bài "Hịch tướng sĩ", nhà thơ Phạm Thiên Thư đã dày công dịch bài hịch ra thành một bài thơ dài theo thể thơ lục bát, đậm hồn dân tộc Việt Nam. Bản dịch bài hịch đó nằm trong tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của nhà thơ Phạm Thiên Thư do Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành và được tái bản vào năm 2012. "Hát ru Việt sử thi" là tác phẩm viết bằng thơ lục bát được nhà thơ Phạm Thiên Thư  viết trong nhiều năm, kể lại những giai đoạn lịch sử quan trọng của nước ta từ thời huyền tích Lạc Long Quân - Âu Cơ đến thời nhà Tây Sơn. Bài thơ dịch bài "Hịch tướng sĩ" nằm trong giai đoạn về nhà Trần của tác phẩm trên. 

Bìa tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của Phạm Thiên Thư.
Bìa tác phẩm "Hát ru Việt sử thi" của Phạm Thiên Thư.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư thổ lộ về nguyên nhân ông chọn viết theo thể lục bát ''vì nó mang đậm hồn dân tộc, dễ viết và truyền cảm hơn các thể loại khác. Đồng thời tôi chọn thể thơ lục bát để biên soạn lại những giai đoạn thiết yếu trong lịch sử dân tộc và thể hiện dưới hình thức hát ru với hy vọng thông qua những bài hát ru này mà các em có thể hiểu biết về lịch sử cha ông mà có tinh thần yêu nước. Nằm trong dự định đó, tôi thấy bài "Hịch tướng sĩ "rất hay nên nảy sinh dịch nó ra thơ lục bát và đưa vào trong tác phẩm "Hát ru Việt sử thi". Xin trích một đoạn trong bài thơ này: "Truyện xưa nay vẫn truyền đời/ Kỷ Tín nguyện chết bỏ đời thay vua/ Do Vu đỡ ngọn giáo đưa/ Nuốt than Dự Nhượng lòng chưa nguôi thù/ Vì cứu nạn nước cho dù/ Chặt tay Thân Khoái - thiên thu sử hồng…. Huống chi ta với các ngươi/ Làm trai Lạc Việt gặp thời nhiễu nhương/ Nhìn Ngụy sứ diễu ngoài đường/ Cậy Hốt Tất Liệt mà giương oai diều… Ta đây quên ngủ quên ăn/ Lòng đau rơi lệ chéo khăn đầm đìa/ Căm chưa diệt hết giặc kia/ Dầu cho phơi xác cận kề cỏ xanh/ Bọc thây da ngựa cũng đành/ Theo ta ngươi giữ quyền hành đã lâu/ Đói no, sống chết bên nhau/ Khác chi nhân vật sử Tầu, Tống, Nguyên…".

Với những ai đã từng đọc bài "Hịch tướng sĩ" khi đọc sang bài thơ này của nhà thơ Phạm Thiên Thư sẽ thấy ông dịch rất sát với nguyên tác, lại được thể hiện dưới dạng thơ lục bát truyền cảm, dễ nhớ, quả là một đóng góp ý nghĩa và thú vị của thi sĩ họ Phạm cho nền văn học nước nhà. Ngoài việc dịch "Hịch tướng sĩ", nhà thơ Phạm Thiên Thư còn thi hóa các pho kinh Phật và soạn ra Từ điển cười (tên gọi khác là "Tiếu liệu pháp").

Cho đến nay, chưa có căn cứ để xác định ai là người đầu tiên dịch bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ. Các tài liệu cho thấy người dịch sớm nhất có lẽ là học giả Nguyễn Đổng Chi, dịch và công bố bản dịch bài hịch này năm 1941 trong tác phẩm "Việt Nam cổ văn học sử". Sau đó là bản dịch của nhà văn Ngô Tất Tố trong tác phẩm "Việt Nam Văn học: Văn học đời Trần" do NXB Đại Nam ở Sài Gòn ấn hành năm 1960. Kế đó là bản dịch của học giả Trần Trọng Kim trong tác phẩm "Việt Nam Sử lược" tập 1, Trần Trọng Kim, NXB Đại Nam, xuất bản năm 1964 tại Sài Gòn.

Vài nét về nhà thơ Phạm Thiên Thư

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 ông vào Sài Gòn và định cư ở đó cho đến nay. Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm "Hậu truyện Kiều- Đoạn trường vô thanh" do Á Nam Trần Tuấn Khải tổ chức thi và trao giải. Từ đó, nảy sinh mối nhân duyên giữa ông với con gái của cụ Trần Tuấn Khải, người con gái này sau là vợ đầu của Phạm Thiên Thư.

Có 10 năm đi tu rồi hoàn tục, nên ông có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là "người thi hóa kinh Phật" (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo. Nhiều thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, và trở nên phổ biến trong công chúng, nổi tiếng nhất là bài "Ngày xưa Hoàng thị", "Đưa em tìm động hoa vàng".

Nguyễn Thịnh

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".