Người đàn bà đi qua cuộc đời của hai trí thức nổi tiếng Việt Nam

Có một người phụ nữ đặc biệt, từng là vợ của hai người đàn ông cũng rất đặc biệt. Đó là bà Nguyễn Thị Nhất, “cựu” phu nhân của triết gia Trần Đức Thảo và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Cuộc đời của hai nhà trí thức in đậm hình bóng của người phụ nữ Bình Định này.

Nước Pháp gắn với những tháng ngày tuổi xanh của bà và cả triết gia Trần Đức Thảo và nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Cô nữ sinh Nguyễn Thị Nhất là học trò môn triết học của thầy Trần Đức Thảo khi còn học tú tài ở đây. Những ngày tháng ấy thầy Thảo đã âm thầm để ý đến cô nữ sinh xinh đẹp này, vậy mà thầy đã chưa dám bày tỏ điều gì với học sinh của mình.

Học xong tú tài, cô Nhất lưỡng lự không biết chọn ngành nào. Nửa muốn đi theo triết học, nửa muốn đi y khoa... Triết học thì trừu tượng và “cao xa” quá sợ không với tới được, còn y khoa thì... giấc mộng không thành vì hễ nhìn thấy máu là cô ngất xỉu. Giữa lúc ấy Nguyễn Khắc Viện xuất hiện và khuyên cô nên đi theo ngành tâm lý học trẻ em. Những cuốn sách ông đưa cho cô, những cơ sở nghiên cứu thực nghiệm tâm lý trẻ em mà ông giới thiệu cho cô đến tìm hiểu đã thực sự cuốn hút cô và rồi cô quyết định nghe lời Nguyễn Khắc Viện đi theo con đường này.

Sau Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện cũng là người thầy thứ hai của cô. Cả ba người trong thời gian ở Pháp đều tham gia vào các phong trào đấu tranh cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà Nguyễn Khắc Viện là người lãnh đạo. Cô Nhất tham gia Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động trong phong trào thanh niên và phụ nữ và cũng có trong “danh sách đen” những người sẽ bị trục xuất khỏi nước Pháp. Và rồi Nguyễn Khắc Viện cũng có tình cảm với người con gái này. Hai người đàn ông cùng để ý đến cô nhưng chưa ai nói với ai câu gì...

Tốt nghiệp đại học ngành Tâm lý học trẻ em tại Pháp, năm 1955 cô Nhất trở về Việt Nam . Đáng lẽ cô sẽ bị trục xuất vì chống đối những chính sách xâm lược thuộc địa của nước Pháp, nhưng Nguyễn Khắc Viện đã bí mật chuẩn bị mọi giấy tờ cho sự trở về êm đẹp của cô. Trước đó bốn năm, Trần Đức Thảo cũng đã về nước theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Cô Nhất trở về công tác ở Bộ Giáo dục và là một trong những người đầu tiên biên soạn cuốn sách học vần lớp một đầu tiên của giáo dục tiểu học thời bấy giờ.

Đọc và học bao sách ở giảng đường đại học nước Pháp, về Việt Nam cô muốn vận dụng những kiến thức đã có áp dụng vào cuộc sống. Vậy là cô rong ruổi trên mọi nẻo đường đất nước với một chiếc xe đạp để đi mở các lớp mẫu giáo, mầm non điểm với một phương pháp giảng dạy phù hợp với tâm lý lứa tuổi.

Quá trình thâm nhập thực tế làm dày thêm những kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn cho công tác nghiên cứu tâm bệnh lý tâm thần trẻ em sau này của cô. Hàng loạt đề án, công trình có giá trị thực tiễn cao, áp dụng vào điều trị các bệnh lý và bảo vệ sức khỏe tâm thần trẻ em của cô đã ra đời từ những tháng ngày lăn lộn này.

Khi cô Nhất về nước cùng với hơn mười trí thức khác đã được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón ân cần tại Phủ Chủ tịch.

Cũng thời gian này, Trần Đức Thảo đã tìm đến và ngỏ lời cầu hôn cùng cô. Một lễ cưới giản dị được tổ chức, chính giáo sư Hoàng Xuân Nhị là chủ hôn và trao giấy chứng nhận cho hai người. Cuộc sống trôi qua đầy biến động. Triết gia Trần Đức Thảo miệt mài với những công trình của mình. Hình như cuộc sống của triết gia lữ hành này là triết học. Ông quên ăn, quên ngủ và... quên cả vợ cũng vì triết học.

Cô Nhất rong ruổi với nỗi buồn và lý tưởng và hoài bão khoa học của mình và rồi cô ngã bệnh. Căn bệnh quái ác khiến cô không thể sinh con. Bố mẹ của Trần Đức Thảo muốn có cháu nội trong lúc cô thì không thể. Trong những ngày trị bệnh ở Viện Lao, một nữ bệnh nhân cùng phòng đã tử vong để lại một bé gái thơ dại. Cô Nhất đã xin bé gái này về làm con nuôi.

Bà Nhất nhớ lại: “Hai vợ chống sống trong một căn phòng bé tẹo, tiếng khóc của bé gái làm cho ảnh không thể tập trung vào công việc. Mình xin Bộ Giáo dục một căn phòng khác rồi đưa cháu đến đó ở. Các cụ bên nhà anh Thảo muốn anh có con, mình thì không sinh nở được nên phải chấp nhận giải phóng cho ảnh, để ảnh tìm người phụ nữ khác...”.  Và rồi cô ra đi cùng với đứa con nuôi. Cuộc chia tay thật nhẹ nhàng…--PageBreak--

Những ngày bên bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

Thời gian cô Nhất sống trong bề bộn khó khăn và thăm thẳm một nỗi buồn thì bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cũng về nước. Và ông đã tìm đến với cô và rồi hai người nên nghĩa vợ chồng.

Trong những dòng hồi ký của mình bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Đến cuối năm 1967, đời riêng của tôi có việc rất quan trọng. Tôi xây dựng gia đình. Đây có thể nói là mối tình đầu thứ hai của tôi. Vì mối tình đầu thứ nhất là với cô người Pháp. Lần này, gọi là mối tình đầu thứ hai là vì đây là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên gắn bó với tôi. Hiện nay là bà xã nhà tôi đấy, là cô Nhất, một sinh viên trong tổ chức Việt kiều. Năm 1952, khi tôi về Paris gặp cô gái Việt kiều này, rồi cùng nhau trò chuyện và trao đổi công việc. Tại sao trong nhóm một tổ chức Việt kiều có khoảng 20 người, lại có sự gắn bó giữa tôi và cô Nhất đến như thế, thật tôi cũng không thể hiểu được...

Chúng tôi gắn bó với nhau từ năm 1953, nhưng mãi 14 năm sau mới lập gia đình. Hồi đó cô Nhất đã đính ước với anh Trần Đức Thảo... Nhất kết hôn với anh Thảo nhưng mối tình hai người không hợp nhau. Năm 1963 tôi về nước thì hai người đã chia tay nhau rồi... rồi chiến tranh xảy ra nên đến cuối năm 1967 thì chúng tôi mới lấy nhau. Đám cưới chúng tôi tổ chức vào ngày Noel năm 1967...”.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và bà Nguyễn Thị Nhất trong lễ thành hôn tháng12/1967.
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện và bà Nguyễn Thị Nhất trong lễ thành hôn tháng12/1967.

Chính bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã đưa cô Nhất đi mổ dạ con. Họ đến với nhau bằng tình cảm thầy trò, đồng chí, bằng tình yêu và tất cả sự cảm thông. Bé Thanh Bình, con nuôi của cô Nhất trở thành con chung của hai người. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là một người rất yêu trẻ. Có lần ông đã tâm sự: “Hạnh phúc của trẻ thơ là một trong những ước mơ lớn nhất của tôi”. Cũng chính vì lẽ đó mà từ thời ở Pháp, ông đã học chuyên khoa Nhi với mong muốn dùng kiến thức y học để giúp trẻ em bớt đau khổ vì bệnh tật. Tấm lòng yêu trẻ là điểm chung song hành trong trọn cuộc đời của vợ chồng Nguyễn Khắc Viện - Nguyễn Thị Nhất.

Bà Nguyễn Thị Nhất đã rất hạnh phúc khi sống bên bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Ngoài hạnh phúc gia đình, họ có cùng một cái đích chung cùng hướng tới là vì những trẻ thơ bất hạnh. Cũng vì vậy mà dẫu bao thăng trầm gian khổ, thiếu thốn mọi bề họ cùng bắt tay xây dựng một trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em mang tên NT để bây giờ nó phát triển như một trung tâm hàng đầu trong nghiên cứu, chữa trị, đào tạo về tâm bệnh lý trẻ em. Họ sống với nhau lãng mạn và ý vị bởi Nguyễn Khắc Viện là một người rất nhạy cảm và tinh tế.

Nhờ một nghị lực sống phi thường, sự lạc quan nên dẫu bị lao và cắt gần hết là phổi mà bác sĩ Nguyễn Khắc Viện vẫn thọ đến năm 85 tuổi ông mới để bà Nhất ở lại một mình. Bà Nhất không thể nào quên cái ngày đau buồn tháng 5/1997 đó: “Sau những ngày ông ấy mất, tôi vẫn không thể  làm quen được với ý nghĩ ấy và càng không chấp nhận với biến cố ấy. Với tôi, ông vẫn luôn sống mãi, lúc nào ông cũng ở cạnh mỉm cười, bao dung, độ lượng và khích lệ. Nguyễn Khắc Viện là biểu tượng của sự quên mình vì người khác...”

Trong cuộc sống thì bà Nhất tiết kiệm và tiêu pha dè sẻn lắm. Nói đúng hơn, bà không biết xài tiền cho mục đích riêng của mình. Điều này cũng rất giống với tính cách của bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện. Sự quên mình cho công việc của bà là để NT ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều trẻ em được quan tâm đúng mức đến sức khỏe tâm thần và đây cũng là để thực hiện ý tâm nguyện của người chồng rất mực yêu thương con trẻ của mình.

Nói vậy thôi nhưng bà Nguyễn Thị Nhất vẫn còn “nặng nợ” với hai người đàn ông từng đi qua cuộc đời mình lắm. Ngày rằm hay lễ tết tôi lên chùa hay đi viếng nghĩa trang cùng, tôi thấy bà không bỏ ai cả. Bà thân mật bảo tôi: “Cô cháu mình cùng đi thăm chú Thảo rồi về thăm chú Viện nhé”

Trần Ngọc Hà

Các tin khác

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc dân tộc Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.