Người cuối cùng của Hà Thành làm giấy cho vui phong sắc

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ 16, gia tộc họ Lại chính là dòng họ duy nhất được chúa Trịnh Tráng ban cho cái đặc ân làm giấy để vua viết sắc phong. Cụ Lại Thế Giáp, người con rể yêu của chúa Trịnh Tráng, một trong những hậu duệ của gia tộc họ Lại là người vinh dự tiếp nhận đặc quyền của nhà Chúa.

Để điều hành công việc trôi chảy, nhà chúa giao cho cụ Lại Thế Vinh, cũng là hậu duệ của dòng họ Lại tước "Đô Thịnh hầu" trực tiếp đảm nhiệm. Đều đặn mỗi năm, họ Lại cung cấp cho triều đình khoảng hơn 2.000 tờ giấy sắc. Vật đổi sao dời, thời cuộc biến thiên theo dòng quỹ đạo, nay thời 4.0, dòng họ Lại ấy chỉ còn duy nhất mình ông Lại Phú Thạch là người cuối cùng giữ được công thức làm giấy sắc phong mà thôi.

Nghệ nhân Lại Phú Thạch tỷ tê chia sẻ, giấy sắc phong còn gọi là giấy sắc. Là thứ giấy đặc biệt được vua, chúa sử dụng nhằm mục đích viết các đạo sắc, phong công, phong thần… cho quan quân triều đình nên đòi hỏi chất lượng rất cao. Nó càng trở nên vô giá khi sắc phong được thể hiện trên nền một loại giấy (dó) đặc biệt, không bao giờ "muôn năm cũ".

Người cuối cùng của Hà Thành làm giấy cho vui phong sắc -0

Nghệ nhân Lại Phú Thạch - người còn lại cuối cùng của gia tộc họ Lại giữ bí quyết làm giấy sắc.

"Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ
"

Cảm động lần dở lại những trang gia phả vàng son của dòng họ, ông Lại Phú Thạch bảo, tính tuổi đời, nghề làm giấy dó của gia tộc nhà mình tới nay đã có lịch sử hơn 600 năm chứ nào có ít ỏi, trẻ trung gì nữa đâu. Bản thân ông Thạch là đời thứ 26 còn lưu giữ công thức làm giấy.

Sống lại với dòng hồi ức linh thiêng, ông Thạch rưng rưng cõi lòng nhớ lại, dòng họ Lại ngày xưa ở thôn Trung Nha rất đông. Hầu hết mọi người ai cũng làm được thứ giấy dó thông thường. Nhưng làm được giấy sắc lại chỉ duy nhất gia đình ông Thạch mà thôi. Công thức chuyển giấy dó thành giấy sắc, chỉ được lưu truyền qua cách dạy trực tiếp, cha truyền con nối. Và chỉ truyền cho con trai trưởng trong dòng họ Lại theo phương thức bí truyền, ấy vậy.

Tâm tình với tôi về công việc làm giấy sắc, ông Thạch bộc bạch, muốn có giấy dó "chuẩn chỉ", trước tiên người ta tước vỏ cây dó ra. Tiếp đến đem thứ vỏ cây ấy ngâm nước vôi loãng. Sau đó mới đun cách thủy. Rồi thì phân loại. Và cho vào cối giã nhuyễn như bùn mới có thể làm thành giấy được.

Riêng việc "hô biến" giấy dó thành giấy sắc cần phải có những công thức và cách làm bí truyền của gia đình. Ông Thạch bảo, hồi năm 2008, khi ông phục dựng lại giấy sắc theo yêu cầu của các "bậc tiên chỉ" dòng họ Lại, lần đầu tiên trong đời, nhiều bậc trưởng lão dù đã ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy" mới được "mục sở thị" tờ giấy sắc nó đẹp đẽ, cao quý nhường nào.

Một trong những tính chất ưu việt của giấy sắc là nó có độ bền cao ngoài sức tưởng tượng, vì không bao giờ bị thấm nước. Nghệ nhân Thạch "bật mí", để có được cái sự "như ý" đó, người thợ làm giấy sắc cho các phụ gia vào trong quá trình seo giấy. Nếu phụ gia đó là thứ keo thì người ta phải tẩm ướp. Mà tẩm ướp thì mỗi người mỗi kiểu. Riêng bản thân ông Thạch lại phết keo theo cách của riêng mình: Phải làm sao cho keo thấm được vào toàn bộ phần thân tờ giấy.

Khi keo đã thấm vào giấy, ông Thạch đem phơi khô. Nhưng nào đã xong. Còn một công đoạn quan trọng bậc nhất mà ông Thạch phải hoàn thiện: Giấy sắc phải có khả năng chống được mối mọt. Thế là người nghệ nhân làm giấy sắc phong cuối cùng của Thăng Long - kẻ chợ xưa lại phải dùng thứ nguyên liệu đặc biệt khác phủ vào tờ giấy, như là phủ keo vậy. Xong việc đó, tưởng đã có thể viết được lên giấy, nhưng không phải.

Người cuối cùng của Hà Thành làm giấy cho vui phong sắc -0
Một bản sắc phong thời Nguyễn.

Muốn cho giấy sắc trở nên đẹp "chả giống bất cứ thứ giấy nào", ông Thạch lại đem nhuộm màu để chúng có được thứ màu vàng đặc trưng. Đây là công việc vô cùng công phu. Khi tờ giấy đã toát lên được hồn vía cổ kính thời phong kiến, ông Thạch vẫn chưa thể mãn nguyện về phẩm cấp của tờ giấy sắc phong. Bởi lẽ, thường thì sau khi nhuộm màu, tờ giấy chả được nhẵn thin thín.

Cái sự xù xì thô ráp của tờ giấy khiến cho người ta khó thể hiện được những nét chữ rồng bay phượng múa lên đó được. Để khắc phục nó, ông Thạch buộc phải dùng cái chày ta mà gõ lên nó trên một mặt gỗ. Hoặc không thì mặt đá. Tiếng là gõ nhưng cứ như vỗ về, nâng niu ru ngủ đứa bé vậy. Gõ cho tới khi tờ giấy không hề còn một thứ tỳ vết, bóng láng như sân trượt băng nghệ thuật vậy.

Nhẩn nha pha ấm trà mới, nghệ nhân Lại Phú Thạch trở lại với mạch cảm xúc đầy thăng hoa, vi diệu. Ông tâm sự, sau rất nhiều công đoạn làm từ giấy dó sang giấy sắc, bước cuối cùng chính là vẽ hoa văn, họa tiết lên thứ giấy đặc biết đó. Công đoạn này cần sự tập trung cao độ của người nghệ sỹ. Từng nét bút phải thật tỉ mỉ, thận trọng. "Đã đặt bút là phải chính xác vì không thể tẩy xoá hay vẽ lại! Đây là công đoạn mang tính nghệ thuật nhất trong quy trình làm giấy sắc!".

Họa tiết để vẽ lên giấy sắc của triều đình thời phong kiến nó có sáu loại cơ bản. Loại phong cho những người có công với cả quốc gia, được dùng cái từ gọi là "phong thần" hoặc là "phong quan". Ngày xưa thì có ba loại phong thần gọi là "thượng đẳng thần", "trung đẳng thần" và "hạ đẳng thần". Còn quan thì có "thượng đẳng quan", "trung đẳng quan" và "hạ đẳng quan". Mỗi một loại thì lại vẽ một hoạ tiết khác nhau. Vậy nên mới hình thành sáu hoạ tiết cơ bản.

"Mỗi một thời của một triều đình lại quy định một kiểu họa tiết - ông Thạch thủ thỉ câu trầm câu bổng - Bởi thế, con rồng ở trên giấy sắc phong ấy nó không phải chỉ có sáu con rồng sáu kiểu đâu. Theo như tôi biết, nó có khoảng trên 70 kiểu rồng. Mà bây giờ tôi chỉ còn nhớ được khoảng 20 kiểu thôi. Có những rồng rất đơn giản. Lại có những rồng rất cầu kỳ!".

*

Trải qua thời gian, nghề truyền thống của cả một dòng họ giờ đây chỉ còn lại trong ký ức và trên nét bút của người truyền nhân duy nhất. Nghệ nhân Lại Phú Thạch đã - đang phải trải qua vô vàn khó khăn, vất vả với việc bảo tồn, phát triển nét vàng son trên loại giấy gấm lưu giữ lịch sử hào hùng của các triều đình phong kiến Việt Nam. Và ghi lại công trạng của các bậc tiền nhân.

Loại giấy sắc phong vô giá ấy còn để lại cho hậu thế những trang vàng của đất nước. Ấy thế nhưng, số người đặt ông Thạch làm giấy sắc chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đấy là các cá nhân, ban quản lý đình chùa có sắc phong nhưng bị hư hại. Họ tìm đến gõ cửa người nghệ nhân làm giấy sắc cuối cùng của Hà Thành để có giấy sắc mà phục dựng lại những văn kiện xưa.

"Tương lai, chắc chẳng còn ai nối nghiệp mình nữa! - ông Lại Phú Thạch trăn trở trải lòng - Vì lẽ, để làm được giấy sắc mất rất nhiều công đoạn, mà làm ra chẳng bán được cho ai. Vì nhẽ, không phải ai cũng có thể dùng được thứ giấy sắc này. Thời buổi kinh tế thị trường, ngay cả "ông" con trai của mình cũng không còn tha thiết với nghề trao truyền của tiên tổ gia tộc!".

Thong thả đặt chén trà nóng chưa kịp nhấp vào lòng bàn tay vương đầy những sắc màu vàng son, nghệ nhân Lại Phú Thạch run rẩy hướng cặp mắt loang loáng những nước của mình vào đôi câu đối chữ vàng treo cao trong ngôi nhà thờ tổ dòng họ Lại. Và ông thổn thức nghẹn giọng: "Giấy vàng xưa vẫn truyền bảo/ Thân bút nay còn động quốc hương". Rồi thì người nghệ nhân cả một đời theo nghiệp tiên tổ ấy nhìn sang tôi mà trải lòng: "Tôi làm giấy sắc đúng theo công nghệ của cách đây hơn 600 năm nên chất liệu, kiểu dáng, họa tiết vẫn y như trước. Vất vả vô cùng. Dù vậy thì mình vẫn nhất quyết không thể buông bỏ, anh ạ!".

Tôi thấu hiểu những lời gan ruột của nghệ nhân Lại Phú Thạch. Tiếp tục say mê với việc bảo tồn tinh hoa nghề truyền thống của dòng họ, âu cũng là cách để ông Lại Phú Thạch có cơ hội tri ân các bậc tiền bối của gia tộc đã để lại cho con cháu cái nghề cao quý mà không phải dòng họ nào trên dải non sống đất Việt này cũng có cái cơ duyên may mắn được vua ban, chúa tặng. Dù cái nghề đó chẳng hề nhàn thân chút nào.

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).