Ngựa ô anh khớp…!

Ngựa ô hay là ngựa đen, tên Hán Việt là hắc mã chỉ những con ngựa có sắc màu đen chủ đạo, đặc trưng của nó là thân màu đen và đuôi đen, phần dưới tứ chi cũng đều là màu đen, ngọn lông có màu rỉ sét, dưới ánh mặt trời giống màu đỏ pha ánh đen.

Là người Nam bộ hầu như ai cũng thuộc bài dân ca "Lý ngựa ô": "Ngựa ô anh khớp, anh khớp cái kiệu vàng (ư…)/ Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen/ Búp sen lá dặm, giây cương nhuộm thắm/ Cán roi anh bịt đồng thòa...". "Búp sen lá dặm" không có nghĩa. Đúng ra là "búp sen lá giậm", theo "Đại Nam quốc âm tự vị" của Huỳnh Tịnh Của thì "lá giậm" là "đồ lót hai bên hông ngựa, chính chỗ người ngồi cặp hai vế". Nó phải hình búp sen thì ngồi cưỡi mới chắc chắn.

Giai điệu tươi vui ngộ nghĩnh diễn tả tâm trạng vui phơi phới của chàng trai được cưới vợ. Giai điệu bài hát rộn ràng đi theo nhịp ngựa chạy đón dâu: "Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng/ Anh đưa nàng về dinh/ Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng/ Anh đưa nàng về dinh...". Bài hát phổ biến, dân gian hóa đến mức câu "đưa nàng về dinh" trở thành câu cửa miệng của người Nam bộ khi nói về cưới hỏi, hôn nhân...

Ngựa ô anh khớp…! -0
Một chú ngựa ô.

Lấy cảm hứng từ dân gian mà nhạc sĩ Trần Tiến có "Ngẫu hứng Lý ngựa ô" đầy đam mê, rạo rực: "Nhớ tiếng vó khớp con ngựa ô/ Ngựa ô, ngựa ô ngàn năm vang mãi/ Tiếng vó có bao chàng trai về nơi đồng xanh/ Ngựa anh đón nàng (ư ư ư ư ư ư ư)/ Cho ai yêu thương nhau bên nhau suốt đời". Chất liệu Rock tươi trẻ càng tăng cường cho bài hát thêm mạnh mẽ, mê say.

Cũng tựa vào dân ca, nhưng lại có cảm hứng ngược lại, "Bài hát ngựa ô lang thang" của nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thạch khai thác chất bi kịch của cuộc đời với chàng trai lỡ tình: "Lóc ca lóc cóc/ con ngựa ô/ ô ngựa ô/ khớp bạc bông vàng/ ai đem câu hát/ mơ màng vu quy/ ngựa ô/ chưa thắng yên vàng/ chưa tra khớp bạc/ cho nàng về dinh/ ngựa anh/ mắt lệ hai hàng/ ai đem con sáo/ bên đàng sang sông/ ngựa anh/ rơi mất kiệu vàng/ xe hoa ai đã/ rộn ràng nhà em/ ô ngựa ô/ hỡi người/ em gái quê tôi/ sao chê bờ đất/ gập ghềnh khó đi...". Cũng đi theo nhịp ngựa chạy nhưng nhịp điệu lời hát trúc trắc trục trặc, "lóc ca lóc cóc", thật đúng với thất tình!

Ngựa ô hay là ngựa đen, tên Hán Việt là hắc mã chỉ những con ngựa có sắc màu đen chủ đạo, đặc trưng của nó là thân màu đen và đuôi đen, phần dưới tứ chi cũng đều là màu đen, ngọn lông có màu rỉ sét, dưới ánh mặt trời giống màu đỏ pha ánh đen. Miêu tả loại ngựa này đúng, cụ thể, sinh động nhất là nhà văn Nguyễn Công Hoan trong truyện ngắn có tên "Con ngựa già" viết năm 1938, in Báo Phổ thông bán nguyệt san, số 61 ngày 16/6/1940.

Người kể chuyện xưng "tôi", tận mắt chứng kiến, quan sát "bao giờ tôi cũng phải nhìn nó bằng đôi mắt kính phục". Về ngoại hình, tính cách: "Nó cao lớn, trông bề ngoài cũng biết là bất kham"; "Nó dữ, khỏe mạnh và hung hăng lắm". Về sức chạy, thì "khi con ngựa ô chạy đã xâm xấp mồ hôi, thì nó càng hăng. Nó tế nhanh và dai sức lắm. Có lần nó đã phi ngang xe lửa từ ga Đình Dù đến Phú Thuỵ. Rồi vì tàu phải đỗ ở Phú Thuỵ, nên nó chạy vượt lên. Người bồi nói rằng hôm ấy, hành khách xe lửa, ai cũng phải thò đầu ra cửa để xem cuộc chạy thi của sức máy móc và sức giống vật".

Bằng phong cách trào phúng đẩy đối tượng tăng cấp về hình ảnh, tính chất, con ngựa ô được nhà văn miêu tả thật quý giá: "Không những con ngựa ấy khỏe mà thôi, nó lại khôn nữa. Ai lại gần nó thì nó hục hặc, cắn đá, nhưng đến ông huyện đứng cạnh, thì nó hiền lành như con bò. Tha hồ ông vuốt ve, thò tay vành răng nó ra, hai tai nó vẫn cứ cúp ra đằng trước một cách ngoan ngoãn. Lính huyện còn ca tụng mãi cái việc nó cứu chủ.

Một đêm, ông huyện cưỡi nó đi tuần. Xảy gặp một toán đông người, có khí giới. Không biết chúng là bọn cướp, hay chúng thù ông huyện, biết ông đến chỗ ấy, nên đón đường định hại. Chúng ồ ra, chặn lối đi. Bị tai nạn bất thần, ông huyện cuống quít. Nhưng con ngựa ô đá vung vít, giải vây được, và cắm đầu tế một mạch về nhà". Con ngựa ô rất có công với "quan lớn" trong "việc công": "Lại một lần nữa, trong mùa nước to, lý trưởng làng Lực Điền phi báo ông huyện khúc đê sạt bốn mươi trượng, ông huyện cưỡi con ngựa ô đến chỗ xung yếu thì được độ năm phút, ôtô ông sứ đến. Ông sứ cho là ông huyện chăm chỉ, lấy làm bằng lòng lắm. Giá dùng con ngựa hồng hay bạch, tất ông đến sau ông sứ, và sẽ bị quở trách là lười biếng việc quan"...

Theo truyền thuyết, ngựa vốn "biến hình" từ loài rồng nên loài ngựa ô nào cao to, khỏe mạnh sẽ được gọi là "Ô Long" hoặc "Hắc Long". Có hai loại, loại ngựa ô quạ sắc lông đen mun ngời ánh xanh như lông chim quạ; loại ngựa thông có sắc lông xanh lục đen ánh xám bạc rất hiếm quý, thời xưa rất được các vị vua cả Việt Nam, Trung Hoa ưa chuộng.

Trong "Liêu trai chí dị", Bồ Tùng Linh tả con ngựa Nhàn Lương Thông (trong truyện "Ngũ Thông Thần") được cả vua trên dương gian lẫn dưới âm phủ quý hơn vàng ngọc vì nó rất khôn và tình nghĩa với chủ. Ở nước ta, Hoàng đế Duệ Tông (1337- 1377) có con tuấn mã Nê Thông được nhà vua sử dụng khi thân chinh đi đánh phạt quân Chiêm Thành. "Nê" dùng để chỉ ngựa có hai màu lông trắng đen, còn "thông" là ngựa có sắc lông ánh xanh. Đây là hai sắc lông hiếm gặp. Nê thông là sự kết hợp những nét ưu trội ở cả hai dạng ngựa kể trên.

Loại Ô Truy còn đặc biệt hơn vì là loại ngựa chiến lông đen tuyền, to lớn, rất khỏe mạnh, dũng mãnh. Trong "Sử ký", Tư Mã Thiên kể về Ô Truy của Tây Sở Bá vương Hạng Vũ: "Hạng Vũ còn có một con ngựa quý tên là Ô Truy (một loại ngựa lông có hai màu xanh trắng) và người thiếp yêu tên Ngu Cơ được Hạng Vũ vô cùng yêu quý. Đây là hai vật quý, hai thứ được Hạng Vũ xem trọng nhất đời". Vẫn theo "Sử ký", khi bị đối phương vây, Ô Truy xông vào trận địa cùng 28 kỵ binh khác phá vòng vây. Bại trận, Hạng Vũ đã dùng kiếm tự sát bên bờ Ô Giang. Ngựa Ô Truy cũng liền chết theo chủ. Trước khi chết nó hí lên mấy tiếng ai oán đau đớn rồi nhảy xuống sông mất dạng.

Truyền thuyết khác lại kể sau khi thua trận, Hạng Vũ đâm cổ tự sát, con ngựa quanh quẩn bên ông chảy máu mắt, bỏ ăn mà chết. Chính vì vậy, Ô Truy được đánh giá là loại ngựa trung nghĩa sắt son, hết lòng vì chủ. Người đời sau vẫn nhắc về ngựa Ô Truy như một biểu tượng đẹp của lòng trung thành. Trong "Tam quốc diễn nghĩa" Trương Phi cũng cưỡi loại ngựa này có tên là Vương Truy Mã, có nghĩa là con ngựa đi theo hầu Đại Vương.

Quốc gia Macedonia (nay là Cộng hòa Bắc Macedonia) có một thành phố tên Buchephalus là tên một con ngựa ô do chính nhà vua Alexandre đặt để tưởng nhớ con vật có công với đất nước. Theo truyền thuyết, Buchephalus thuộc giống nhân mã không phục tùng bất cứ một ai trừ vua Alexandre. Khi còn là hoàng tử Alexandre thuần hóa con ngựa bằng tình yêu vô bờ. Chàng đưa tay vỗ nhẹ vào cổ và khẽ lái con thần mã hướng về phía mặt trời để nó không còn sợ bóng của chính nó. Cuối cùng chàng chinh phục được con vật dữ tợn và lên ngôi vua để thôn tính khắp cả vùng Trung Đông.

Ngựa ô anh khớp…! -0
Tranh vẽ Hoàng tử Alexandre thuần hóa thần mã.

Trong một trận chiến ác liệt, Buchephalus bị thương rất nặng, Alexandre định thay ngựa khác nhưng Buchephalus không chịu, đến trước mặt chủ tướng, nó quỳ xuống cho Alexandre lên yên. Với sức tàn còn lại Buchephalus vùng lên hoàn thành sứ mạng đưa Alexandre chiến thắng trước khi trút hơi thở cuối cùng. Nhà vua an táng Buchephalus với tất cả lễ nghi trọng thể cấp quốc gia!

Trong "Tây Sơn ngũ thần mã" (5 con ngựa thần của nhà Tây Sơn) thì một trong số đó là Ô Du của danh tướng Đặng Xuân Phong. Truyền thuyết kể Ô Du có lông đen như gỗ mun, bốn chân thon nhỏ như chân nai, có hình dạng và dáng đi giống như cọp. Ô Du leo núi và vượt qua những ghềnh núi đá nhấp nhô nhưng người cưỡi có cảm giác như đi trên đất phẳng. Trong lần đầu xuất trận, nhờ Ô Du mà Đặng Xuân Phong chiếm được thành Thăng Bình và Điện Bàn, sau đó đuổi giết được hai tướng chúa Nguyễn là Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân. Sau khi vua Quang Trung băng hà, Đặng Xuân Phong liền cáo quan về quê rồi bỏ đi nơi khác. Ô Du cũng biệt tích theo...

Theo huyền thoại thì ngựa sắt của Thánh Gióng cũng là ngựa ô vì được đúc bằng chất liệu sắt. Ngựa sắt phun ra lửa mới hợp lý và thật đích đáng cho kẻ xâm lược khi chúng chết như ngả rạ trước hành động phi thường của người anh hùng. Giặc tan Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên trời. Phải là ngựa đen thì mới in rõ hình trên nền mây trắng trời xanh...!

Trở lại vấn đề, tại sao hình tượng ngựa ô với âm thanh lục lạc, tiếng vó cùng đoàn rước dâu... lại gần gũi với văn hóa vùng Nam bộ hơn là ở Bắc bộ? Xin mời bạn cùng tìm hiểu!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).