Ngồi tự mạn thuyền Ngũ Huyện Khê

Mỗi lần về Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) tôi thường dạo bộ chợ gỗ bên sông Ngũ Huyện Khê. Bến sông luôn nhộn nhịp những con thuyền chở gỗ từ sông Đuống rẽ vào. Xa xưa Đồng Kỵ hình thành lắm ngành nghề và tấp nập khách mua bán cũng nhờ con sông này. Kẻ Cời là tên làng Đồng Kỵ xưa đã có câu: “Hỡi cô thắt lưng bao xanh/ Có về Đồng Kỵ với anh thì về/ Đồng Kỵ có lắm ngành nghề/ Có sông tắm mát có nghề buôn trâu”.

Kẻ Cời buôn bán ngược xuôi

Những con chợ luôn ghi dấu ấn sắc màu văn hóa sinh động nhất của từng vùng miền. Chợ gỗ Đồng Kỵ không ngoài diện mạo đó. Thậm chí người ta còn nói Đồng Kỵ là làng trăm nghề và làng tỉ phú. Cho đến nay hễ bước ra đường là gặp giám đốc công ty buôn bán đồ gỗ. Đồng Kỵ đã lên phường thuộc thành phố Từ Sơn nhưng văn hóa làng xã vẫn ghi dấu ấn bản thể trong sinh hoạt và những ngày lễ hội.

Chợ gỗ được phân chia gian theo từng hạng mục và chất liệu hàng. Mà những người đi chợ đều thường là những giám đốc các công ty cùng với khách thập phương kéo đến. Gỗ bán cân hoặc bán theo tấm đã xẻ sẵn. Thậm chỉ một khúc gỗ quý như Sưa, Lim, Trắc cũng đều có giá bạc triệu.

2-chợ gỗ bán theo cân ở đồng kỵ.jpg -0
Chợ gỗ bán theo cân ở Đồng Kỵ.

Người Đồng Kỵ xưa khởi nghiệp bằng nghề thợ xẻ gỗ. Họ tỏa đi khắp các rừng phía Bắc để xẻ gỗ thuê. Sau đó nhiều người chuyển sang buôn bán đồ gỗ cổ nên lãi to. Suốt hàng chục năm họ xâm nhập thị trường từ Bắc chí Nam tìm cách thu mua bán gường tủ, bàn ghế tràng kỷ và tủ chè cổ để bán lại cho những người giầu có. Họ thành thạo giá cả và buôn từ gốc bán đến ngọn. Thậm chí họ còn bán đồ gỗ cổ sang tận Thái Lan, Campuchia và Trung Quốc. Chợ gỗ Đồng Kỵ ngày một bùng phát cũng bởi sự năng động của người dân Đồng Kỵ. Lại nhớ Kẻ Cời còn nổi tiếng là giỏi giang khắp vùng từ nghề buôn bán trâu bò thời Pháp thuộc: “Trai thì buôn bán ngược xuôi/ Gái thì canh cửi, chăn nuôi, ruộng đồng”.

Ấy là lịch sử con chợ hiện diện hình ảnh Kẻ Cời xưa. Đến nay người Đồng Kỵ vẫn thể hiện sự tinh khôn lọc lõi của người kẻ chợ. Mỗi khi chuyển đổi ngành nghề theo thị trường người Đồng Kỵ thường đi trước một bước và làm chủ cuộc chơi. Sau khi những đồ dùng hàng cổ khan hiếm và rủi ro khó lường; Ngay lập tức người Đồng Kỵ tổ chức làm hàng giả cổ. Họ tạo dựng thị trường ngay trên mảnh đất của mình. Họ tới những làng nghề gỗ mỹ thuật quanh vùng để mua hàng thô về trau chuốt lại cho tinh xảo. Nhiều nghệ nhân đã tìm về làm thuê và dậy nghề cho người làng Đồng Kỵ.

Chợ gỗ Đồng Kỵ càng trở nên đông vui hơn. Làng nghề đóng đồ gỗ ở đây cũng từ đó mà phát đạt. Thợ đóng đồ mỹ nghệ giả cổ của người Đồng Kỵ lại khéo tay và chạm khắc rất tinh xảo. Sinh thời nhà thơ Vũ Từ Trang (người Kẻ Sặt-Từ Sơn) cũng đã từng mở công ty buôn bán đồ gỗ ở đây. Ông đã viết: “Ghế trúc, ghế Guột, ghế Khánh, Ghế rồng/ Đời Minh, đời Thanh dáng nào cũng đẹp” (Chuyện làng mộc)

Ai đến đây cũng đều bất ngờ với tốc độ phát triển làng nghề đến chóng mặt ở Đồng Kỵ. Nhất là sau khi đất nước thống nhất, thị trường được mở rộng, nghề đồ gỗ mỹ nghệ ở Đồng Kỵ càng tưng bừng. Đặc biệt, một thời gian dài người thợ ở đây đã làm ngày đêm để kịp chuyển hàng sang Trung Quốc. Nhiều tổ hợp sản xuất tự động và bán tự động cùng với ứng dụng công nghệ mới của làng nghề Đồng Kỵ đã ra đời. Nhịp điệu và không gian công nghiệp đồ gỗ ở đây thật sự hối hả quanh năm suốt tháng. Đồng Kỵ có tới hàng chục ngàn người làm thợ chưa kể hàng ngàn người từ các địa phương khác tới làm việc.

Hiện này, phường nghề có hơn 250 doanh nghiệp tạo nên khu công nghiệp chế biến gỗ khổng lồ tại địa bàn và quanh vùng Từ Sơn. Ngoài thị trường tiêu dùng khắp đất nước, hàng gỗ Đồng Kỵ còn xuất sang Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc. Đến nay, Kẻ Cời vẫn hiện diện đúng như nó một thuở: “Đồng Kỵ đóng tủ, đóng giường/ Làm đồ cổ đẹp muôn phương tìm về/ Đồng Kỵ có lịch có lề/ Có sông tắm mát tứ bề ấm no”.

Hội Đồng Kỵ pháo chị pháo em

Phường Đồng Kỵ có lễ hội hàng năm rất kỳ lạ vào mùng 4 Tết âm lịch. Họ tổ chức thi rước pháo lớn và thi vật. Khi xưa làng Đồng Kỵ gồm ba làng Việt cổ có tên là Cời, Cọc và Cờ nằm dọc sông Ngũ Huyện Khê. Cả ba làng đều thờ chung Thành Hoàng là Đức Thánh Thiên Cương vào thời Hùng Vương thứ 6. Dân cả ba làng thường thi quan họ hàng năm và cùng rước pháo dâng hương vào mùa xuân.

Thời nào dân làng Đồng Kỵ cũng giầu có vì ham mê buôn bán quanh năm nên họ rước những quả pháo rất lớn. Đó là những quả pháo khổng lồ (có khi dài hơn chục mét) tượng trưng cho tinh thần thượng võ đánh giặc giữ nước.

Chuyện xưa kể rằng thời vua Hùng có tướng Cương Công có công dẹp giặc Xích Quỷ nên được vua phong là Thiên Cương. Trên đường đi đánh giặc ông đã đến Đồng Kỵ tuyển quân chọn tướng vào ngày mùng 4 tháng Giêng năm ấy. Quân sĩ được chia làm 4 binh đoàn và do bốn tướng chỉ huy. Thiên Công tổ chức cho đốt pháo động viên đoàn quân quyết chiến quyết thắng. Khi dẹp giặc xong Thiên Cương trở về Đồng Kỵ mở hội ăn mừng. Tục rước pháo và làm pháo lớn bắt đầu từ đó.

untitled-16.jpg -0
Thợ trẻ làng nghề Đồng Kỵ.

Lễ hội được diễn ra tại sân đình và chùa Đồng Kỵ. Đình nằm trong một khuôn viên rộng tới 3ha trải dọc sông Ngũ Huyện Khê. Chung quanh đình chùa là một rừng cây cổ thụ gồm Đa, Si, Bồ đề và Sưa… Không khí quanh năm mát mẻ xanh tươi tạo nên cảnh sắc nên thơ. Những cô gái chàng trai quanh năm bươn chải nhưng vào ngày xuân đã hóa thân về với làng quan họ. Liền anh, liền chị ca hát duyên dáng và tình tứ xiết bao. Những lời ca “Ngồi tựa mạn thuyền” hay “Người ở đừng về”, hoặc “Con nhện giăng mùng”… luôn ngân vang ngọt ngào, bay bổng bên sông.

Một thời cố thi sĩ Anh Vũ mỗi khi về quê luôn theo chân các liền anh chơi quan họ. Ông đã viết bài thơ “Thăm chùa Đồng Kỵ” để miêu tả cảnh tượng huyền diệu nơi đây: “Thu không gióng cả cánh chim mau/ Trăng chợt lung lay bóng chuối cau/ Đèn lên tỏ ngọn nhang đưa ngát/ Cảnh Phật rêu xanh đã giãi màu”.

Các cụ làng truyền rằng “Hội Đồng Kỵ pháo chị pháo em” để ghi dấu không khí nhộn nhịp của hội làng. Xưa còn đốt pháo để tranh chấp thắng thua, nay chỉ làm pháo giả với các họa tiết rực rỡ. Những âm thanh rộn rã của kèn trống và đàn ca sáo nhị đã thay cho tiếng nổ vang trời. Các chàng trai và cô gái lại dìu dặt hẹn hò trong làn điệu “Dọn quán bán hàng”. Họ không vì mải vui mà quên đi chuyện làm ăn. Giọng ai cùng vang rền, nền nảy trong câu ca: “Dọn quán cùng có a bán hàng/ Là anh Hai ơi/ Dọn quán bán hàng để tôi là khách ơ là tôi là khách/ Ơ tình tang như luống tình tinh cái nỗi đi qua đàng…”. Tiếng trống thay tiếng pháo rộn ràng trong giai điệu mê say của cánh quan họ ngân nga trên sông nước mênh mang.

Tây Am Tự

Chùa làng Đồng Kỵ nằm kề bên đình được bóng cây xanh che phủ. Không cứ vào lễ hội hàng năm mà dân Đồng Kỵ thường về đây lễ Phật cầu kinh. Hệ thống tượng thờ của chùa đã ghi dấu thời gian trăm năm cho dù đã được tu sửa nhiều lần. Nhưng nơi đây vẫn giữ được nét cổ phong xanh rêu từ thời vua Khải Định không phai mờ. Thinh không và tĩnh lặng. Nhưng dưới mái chùa còn có những dấu tích của thời Tiền khởi nghĩa phả lên hơi thở rạo rực đâu đây. Và còn đó những câu thơ mà nhà thơ Anh Vũ ghi lại dấu tích một thời hào hùng đã diễn ra tại chùa này: “Tre trúc hiền lành quen đón bạn/ Thực đây Đồng Kỵ dấu chân xưa/ Chén sành, bàn mộc kỳ nhen nhúm/ Ấm lòng cách mạng nghĩa rau dưa” (Thăm chùa Đồng Kỵ)

Chùa Đồng Kỵ là cơ sở hoạt động cách mạng của các đồng chí lãnh đạo như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng… Nơi đây, các nhà cách mạng đã được Thiền sư Phạm Thông Hòa cùng các phật tử nuôi giấu che chở. Đặc biệt, nơi đây đã diễn ra cuộc họp quan trọng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản chỉ thị lịch sử “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (9-3-1945). Tây Am Tự luôn ngân vang tiếng chuông vọng khắp phố phường. Đêm đêm, tiếng mõ khắc vào thời gian ẩn sâu trong không gian kẻ chợ một thuở bình minh bên sông Ngũ Huyện Khê.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).