Ngôi làng cổ bên dòng Đắk Bla

Như cánh chim Ch'rao sải cánh giữa đại ngàn, tôi ngược dòng sông Đắk Bla hiền hòa, thơ mộng tìm về với ngôi làng cổ Kon Kơ Tu (Kon K'tu), xã Đăk Rơ Wa, cách trung tâm thành phố Kon Tum khoảng 6km về phía đông. Có lẽ vì thế mà bên cạnh việc lưu giữ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Ba Na, những phong tục tập quán, cách sinh hoạt thường ngày của bà con nơi đây vẫn còn gắn bó mật thiết với dòng sông Đắk Bla.

Khoảng lặng giữa xô bồ phố thị

Băng qua khỏi cầu treo Kon Klo tầm 3km là đến làng Kon Kơ Tu. Giữa khung cảnh núi rừng trùng điệp, những nhánh bông mía nở hoa tim tím như những vạt lau đung đưa dọc bãi bồi phù sa màu mỡ. Xa xa dưới bến sông là những chiếc thuyền độc mộc nằm yên bãi. Tất cả tạo nên một bức tranh làng quê tuyệt sắc dẫn vào làng Kon Kơ Tu thanh bình.

konkotu5.jpg -1
Trong những ngôi nhà sàn gỗ, các hoạt động của phụ nữ Ba Na vẫn diễn ra quen thuộc hằng ngày.

Cũng như bao buôn làng khác, ngôi nhà rông được đặt ở vị trí đầu làng. Mái nhà lợp bằng tranh cao hơn 13m như điểm nhấn làm nổi bật lên ngôi làng cổ. Đây là nơi sinh hoạt cộng đồng của 138 hộ dân với hơn 736 nhân khẩu. Nếu ví dòng sông là nguồn sữa mẹ cung cấp phù sa màu mỡ bồi đắp cho những vụ mùa tươi tốt thì nhà rông là linh hồn văn hóa của làng.

Mặc dù hiện nay nhiều làng ở khu vực Tây Nguyên chịu sự tác động của phát triển kinh tế xã hội đang dần đánh mất đi kiến trúc làng thì Kon Kơ Tu vẫn ít nhiều giữ được kiến trúc "làng tròn" với mô hình các nhà đều xây dựng xung quanh nhà rông. Đây là kiến trúc cổ của các làng dân tộc bản địa trên địa bàn tỉnh Kon Tum mà rất ít làng còn giữ lại. Nhà rông không chỉ là nơi diễn ra hội họp quan trọng mà còn tổ chức các hoạt động hằng ngày của người dân trong làng như đánh bóng chuyền, tổ chức lễ hội hay đón tiếp khách quý đến chơi. Chính điều này làm cho cuộc sống ở làng cổ Kon Kơ Tu trở nên sôi động hơn mỗi khi chiều về.

Tuy nằm cách không xa thành phố nhưng ngôi làng cổ Kon Kơ Tu vẫn giữ được vẻ đẹp yên ả, hiền hòa và thân thiện. Du khách không chỉ khám phá những nét riêng biệt, độc đáo của người Ba Na mà còn hứa hẹn mang đến những trải nghiệm hấp dẫn về bản sắc văn hóa mang dư âm, hương vị của người Ba Na. Dạo quanh ngôi làng, chúng tôi dễ dàng bắt gặp hình ảnh những em bé theo chân mẹ hoặc cùng nhau đạp xe trên những con đường quanh co dẫn ra bờ sông thanh vắng. Trước hiên nhà sàn, các bà các mẹ vẫn còn giữ thói quen ngồi tụm năm tụm ba chuyện trò.

Chẳng biết làng có chính xác từ bao giờ, nhưng thông qua những câu chuyện kể của cha ông thì ngôi làng đã có lịch sử hơn 300 năm. Nhiều năm về trước, làng cũ cách làng mới hiện nay khoảng 3km. Đến năm 1968, để tiện cho sinh hoạt, đánh bắt thủy sản, cả làng kéo về sát bờ sông Đắk Bla rồi xây dựng lên ngôi làng như hiện nay.

Trong ký ức của những người cao tuổi nhất của làng là hình ảnh những năm tháng đói nghèo bởi những hủ tục lạc hậu. Niềm hãnh diện lớn nhất của người dân làng lúc đó không có gì ngoài việc sinh thật nhiều con. Với quan niệm "đông con đông của", cuộc sống dân làng cứ hết nghèo lại đói. Sau năm 1975, với sự vận động, tuyên truyền của chính quyền địa phương, những chuyện phạt vạ không còn, nhưng những ai vi phạm luật làng thì vẫn phải bị xử lý. Những thanh niên chưa cưới mà có con sẽ bị phạt một khoản tiền nhỏ để sung vào quỹ làng. Thanh niên sau khi gây gổ đánh nhau phải theo già làng đến tận nhà nhau để xin lỗi rồi đền bù tiền thuốc men theo thỏa thuận. Nhưng giờ đây, mọi hủ tục đã được xóa bỏ. Cuộc sống người dân cũng ổn định hơn. Những người đàn ông vẫn duy trì thói quen lên rừng làm nương, săn con nai, con dúi, phụ nữ trong làng thì cần mẫn dệt vải, đan gùi.

Đến làng Kon Kơ Tu, chúng tôi không chỉ được đắm mình vào không gian văn hóa cồng chiêng mà còn được làm quen với những khúc dân ca trên nền thanh âm được tạo ra từ những nhạc cụ truyền thống độc đáo như đàn T'rưng, Ting glinh (đàn nước), Tingning (đàn quả bầu). Bên cạnh đó, người Ba Na còn có nhiều làn điệu dân ca giao duyên mượt mà đằm thắm cùng với nhiều kiểu hát kể phong phú như Hri 'Nhoi (hát đồng dao), Hri Mơ'Mon, Hri HơNhoông, Hri Cheo, Hri Troôm… đặc biệt nhất là Hri Hơ'Mon (hát kể sử thi Ba Na). Bên cạnh đó, chúng tôi còn được chiêm ngưỡng những điệu múa xoang trên nền thanh âm của cồng chiêng. Nếu về làng đúng dịp, du khách còn được tham gia các lễ hội truyền thống của người dân Ba Na như lễ Bổn mạng, lễ hội mừng lúa mới…

Hiện nay làng vẫn còn lưu giữ nét kiến trúc nguyên bản ngày xưa của người Ba Na với tỷ lệ nhà sàn truyền thống chiếm trên 50%. Các ngôi nhà sàn được xây dựng xung quanh nhà rông. Trong các nhà sàn, những người phụ nữ Ba Na quây quần ngồi dệt thổ cẩm. Những trò chơi dân gian được các em nhỏ bày ra dưới thanh âm của những tiếng cười rộn ràng và giòn tan cả một góc trời.

Đứng ở làng Kon Kơ Tu, chúng tôi có thể nhìn thấy đỉnh núi Kong Muk sừng sững ở phía Đông, ngả bóng mình soi xuống dòng Đắk Bla hiền hòa và trầm mặc. Dọc theo bờ sông Đắk Bla là những bãi cát phẳng khá lớn, ôm lấy ngôi làng. Chỉ ở lại vài ngày nơi đây, chúng tôi đã có thời gian trải nghiệm thú vị khi đạp xe hoặc thả bộ trên những con đường mòn gồ ghề dẫn ra dòng sông Đắk Bla xanh trong và thơ mộng, ngắm những người dân chài lưới trên thuyền độc mộc mỗi khi chiều buông hoặc trong nắng sớm.

Để Kon Kơ Tu là điểm đến ấn tượng

Làng cổ Kon Kơ Tu có được như ngày hôm nay phải kể đến công lao của chính quyền địa phương trong việc quy hoạch ngôi làng thành làng du lịch cộng đồng. Nhiều hộ dân đã mạnh dạn vay vốn sửa nhà làm homestay phục vụ du khách. Bên cạnh đó, UBND xã Đăk Rơ Wa đứng ra tổ chức đưa người dân đi trải nghiệm thực tế và tập huấn mô hình du lịch tại tỉnh khác; đồng thời liên kết với Trường cao đẳng Cộng đồng tỉnh Kon Tum đào tạo, cấp chứng chỉ dịch vụ nhà hàng cho 25 học viên trong làng.

konkotu2.jpg -0
Người dân chuẩn bị thả lưới trên dòng sông Đắk Bla khi hoàng hôn buông.

Sau khi trở thành làng du lịch sinh thái, làng Kon Kơ Tu kết nối du khách với người dân địa phương thông qua các homestay theo hình thức cùng ăn, cùng ở. Nhờ đó mà du khách không chỉ được trải nghiệm ngủ đêm trong ngôi nhà sàn truyền thống của người Ba Na, mà còn trải nghiệm văn hóa qua việc học cách nấu ăn bên bếp lửa ấm trong nhà, thưởng thức các món đặc sản Tây Nguyên như: cơm lam, gà nướng, xiên heo, rượu cần… từ đó có cơ hội hòa nhập và tìm hiểu sâu đời sống sinh hoạt thường ngày của người dân tộc thiểu số nơi đây. Cũng từ đây, cuộc sống dân làng Kon Kơ Tu bước sang một trang mới khi mỗi năm đón tiếp hàng chục ngàn du khách.

Dẫu vậy, như bao làng quê khác, nhiều nét văn hóa truyền thống của làng Kon Kơ Tu cũng đang đứng trước nguy cơ mai một khi nền kinh tế thị trường đang dần làm mất đi những ngôi nhà sàn ít ỏi còn sót lại; trong khi đó, những ngôi nhà sàn bằng gỗ quý hiếm đang có nguy cơ bị mất dần. Bên cạnh đó, nghề truyền thống dệt vải, đan gùi đang có xu hướng thương mại hóa và du lịch hóa khi người dân chỉ làm ra các sản phẩm đơn điệu và chạy theo số lượng.

Làng cũng đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng bao bọc xung quanh khi người dân vẫn còn duy trì tập tục đốt rừng làm nương rẫy. Do đó, để bảo tồn và phát huy lợi thế, thế mạnh về văn hóa, du lịch của làng, chính quyền tỉnh Kon Tum cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ văn hóa truyền thống của đồng bào; đồng thời tổ chức hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong làng phục hồi các lễ hội truyền thống.

Đoàn Hạo Lương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).