Nghĩ về một "đứa con" bị "thất lạc" của Nam Cao

Đó là truyện ngắn "Hai người ăn tết lạ", được sáng tác trước 1945. Gần như nó chỉ được GS. Hà Minh Đức tuyển một lần trong tập "Những cánh hoa tàn" do Nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1988. Ngoài ra, theo quan sát của chúng tôi, nó không có mặt trong bất cứ một tuyển tập nào của Nam Cao dù đây là nhà văn có tác phẩm được tái bản liên tục.

Theo tôi, đây là một thiệt thòi lớn với độc giả bởi "Hai người ăn tết lạ" là một truyện ngắn hay cả về nghệ thuật lẫn nội dung tư tưởng; mang đậm phong cách nghệ thuật của Nam Cao.

Trước hết, xin tóm tắt khung tự sự của truyện ngắn này:

Đêm tối lắm, tối đến mức hắn không nhìn thấy bàn tay của hắn. Gió rít từng cơn, cây cối xã xượi. Bị gió buốt táp, hắn rụt đầu để che cái cổ, nghiến chặt hai hàm răng. Hắn thấy cái nghề của hắn khổ quá, hắn tức những kẻ ăn không hết lại không nhường cho hắn. Đi hết cánh đồng, hắn vào tới xóm. Có tiếng chó sủa. Đêm ba mươi tết, người ta thức dai lắm. Vào nhà ai đây? Chẳng lẽ lại về tay không? Tiếc công, hắn đi sâu vào xóm. Thế nào cũng phải đến lúc người ta ngủ, hắn nghĩ thế, thức càng khuya, ngủ càng say. Có khi hắn vớ bẫm không chừng.

image001.jpg -0
Hầu hết trong các "Tuyển tập Nam Cao" không có truyện ngắn "Hai người ăn tết lạ".

Bỗng nhiên hắn nghe tiếng tù. Thì ra bọn tuần đinh. Hắn tìm chỗ nấp. Tiếng chân bọn tuần đi xa dần, hắn chui ra. Hắn đi. Gần đến giờ giao thừa. Vừa lúc đó hắn phát hiện một ngôi nhà không có lửa, cũng không có chó. Hắn tìm được chỗ giậu thủng, chui vào. Trong nhà còn có tiếng người, họ nằm trong ổ rơm, đắp chiếu, thò đầu ra nói chuyện. Tiếng đàn ông ồ ồ, tiếng đàn bà thỏ thẻ. Ra là chồng với vợ. Họ vừa nói, vừa nhai cái gì rau ráu, nghe vui tai. Và cái mùi cho hắn biết họ nhai ngô rang. Tưởng gì! Mà họ cười rúc rích.

- Tết nhà mình to quá!

- Hẳn đi chứ lị! Tết nhà cụ bá cũng không to thế.

- Thật! Họ chỉ có thịt, cá, bánh chưng, chè...

- Nhà mình không thèm ăn những thức ấy. Chúng mình ăn tết bằng ngô rang.

[...]

- Chẳng ai sướng bằng chúng ta.

Họ cười hi hí. Bỗng người vợ kêu lên, người chồng cười rồi rít lên: "Giời ơi! Sao chúng tôi sung sướng thế này?". Người vợ mắng: "Hừ! Điên đấy à". Một câu mắng nũng nịu. Tên trộm thần mặt ra. Hắn thấy hai vợ chồng này sướng.

Đến đây, chúng ta bắt đầu cảm nhận được cái tài của Nam Cao. Đời văn Nam Cao thường được các nhà nghiên cứu "vo" lại ở hai đề tài: trí thức tiểu tư sản và nông dân. Dù viết về đề tài nào, tác phẩm của Nam Cao luôn hướng về "tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than" (Trăng sáng). Cái khổ trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao thoát thai từ những nẻo nguyên nhân khác nhau, trong đó có cái đói. Tuy nhiên, cái làm nên văn tài của Nam Cao không phải là bản thân cái đói mà là quan niệm nghệ thuật của ông về cái đói. Theo một nhà nghiên cứu, nếu cái đói của Ngô Tất Tố nằm ở cái bụng (cái đói về mặt sinh học, giết chết con người) thì cái đói của Nam Cao nằm ở cái đầu, trái tim: cái đói giết chết nhân phẩm con người như từ xưa cha ông ta đã đúc kết: "Miếng ăn là miếng nhục". Cái đói, với Nam Cao, là kẻ thủ ác truy đuổi con người vào ngõ cụt, không lối thoát về danh dự, nhân cách.

Với quan điểm đó, Nam Cao thường đặt nhân vật của ông vào những tình huống đa dạng của những cuộc truy đuổi. Và tiếng kêu nơi ông là tiếng kêu khẩn thiết: làm sao để con người không bị hỏng, làm sao giữ lấy được thiên lương của con người, hãy bảo vệ con người. Cũng vì thế, Nam Cao rất quan tâm đến môi trường sống. Nam Cao luôn đặt vấn đề: Đừng để con người sa chân vào những môi trường sống khủng khiếp, không bị vấy bùn, hoặc khi con người đã trót/ bị sa chân, làm thế nào kéo con người từ dưới vũng lầy lên bến bờ hoàn lương.

Trở lại với tên trộm trong truyện ngắn này. Vì sao hắn thấy hai vợ chồng ăn ngô rang sướng? Hắn nghĩ: "Ít ra họ cũng không khổ lắm". Đúng vậy. Nhưng chỉ thế thì đâu phải là Nam Cao. Điều quan trọng là, như một khải huyền, hắn nghĩ: "Và giá hắn muốn, thì hắn cũng đã có thể như họ được. Một cái ổ rơm. Vài manh chiếu lành hoặc rách. Một mẻ ngô rang đựng trong cái rá. Đôi ba lời dịu ngọt. Và rất nhiều yêu thương".

Những câu văn rất Nam Cao. Ngắn, nghe không mềm và ngọt nhưng tràn đầy triết luận và tình yêu thương con người. Thứ triết luận từ cõi nhân sinh lấm láp chứ không nói vống lấy được hay lý sự vặt kiểu tháp ngà. Tại sao tên trộm khổ? Đã đành hắn thiếu ăn. Đã đành hắn thiếu lương thiện. Nhưng hai vợ chồng ăn ngô rang thì khá khẩm gì? Tại sao đời của vợ chồng hắn không có những tiếng cười kia? Do hắn. Cũng do vợ hắn nữa. Ngòi bút của người trần thuật len lách vào trong suy nghĩ của trên trộm, trong cái đêm ba mươi khốn khổ khốn nạn của hắn: "Vợ hắn không cười với hắn. Hắn không cười với thị. Chúng ngồi ăn với nhau, mỗi cặp mắt nhìn một mảng đất, mỗi lòng nghĩ đến một ý nghĩ chua chát hoặc buồn rầu. Chẳng ai nói với ai, hay chỉ nói với nhau những lời gắt gỏng [...] Hắn không âu yếm vợ".

 Chưa hết, hắn lại hay liếc con dao quèn quẹt vào miệng vại mà bảo vợ: "Ông giết mày! Ông giết mày!".

Đó là lời trực tiếp của hắn. Còn đây là lời nửa trực tiếp - giọng điệu Nam Cao qua cảm xúc vừa hình thành trong tên ăn trộm: "Hắn chẳng giết ai, nhưng giết chết lòng yêu. Nhận được một lời thô tục, người đàn bà ném trả một lời thô tục".

Vừa lúc hắn nghĩ được điều này thì hắn nghe tiếng người vợ trong ngôi nhà kia: "Tay này...tay ải...tay ai...?", rồi tiếng người chồng kia đáp lại: "Tay này...tay ảnh...tay anh...!". Tiếp đó là tiếng cười hí hí của người vợ.

Truyện ngắn là một khúc cưa đời sống. Đây là chỗ bất lợi của truyện ngắn so với tiểu thuyết. Làm sao với dung lượng "trong túi" mà nói được chuyện thế gian? Chưa kể phải nói một cách thú vị, thuyết phục, ám ảnh? Cái khó ló cái khôn. Các nhà truyện ngắn coi trọng việc dày công xây dựng tình huống truyện. Hiện nay, vẫn có nhiều cách hiểu về tình huống truyện. Tôi thì tán đồng quan niệm cho rằng tình huống truyện là cái tình thế đặc biệt có vai trò gây đột biến, tạo ra bước ngoặt, sự biến đổi bất ngờ trong cuộc đời, trong tâm trạng hoặc nhận thức của nhân vật.

Tiếng cười nói ỏn ẻn của người vợ ăn ngô rang đã đánh thức lương tính trong tên trộm. Đứng trong đêm tối rét ghê người, hắn "mỉm cười" và "thấy thèm hạnh phúc của đôi vợ chồng này quá". Thế là hắn lê người đến gần chỗ họ, bốc trộm một nắm ngô rang. Một lát sau, hai vợ chồng kia ngủ, hắn bốc vội vàng mấy nắm ngô bỏ đầy hai túi. Cái rá hết nhẵn không còn một hột. Hắn rón vài hột, nhai công cốc. Hắn muốn nhai nữa nhưng cố nhịn? Vì sao nhỉ? Người kể chuyện cho hay: "Anh nghĩ đến vợ, đến cái ổ lá chuối và cái rá. Quên cả rét, anh chạy thật nhanh về nhà".

Một con người được hồi sinh về nhân phẩm. Một gã đàn ông cộc cằn, thô bạo sẽ trở lại làm người chồng biết yêu thương và khát khao tổ ấm. Tư duy hình tượng nghệ thuật cho phép người đọc hiểu nhân vật người ăn trộm sẽ hoàn lương. Tuy nhiên, hình tượng nghệ thuật phải được đắp nặn, tạo hình và biểu hiện chứ không phải lời nói thẳng theo kiểu luận thuyết của đạo đức hay pháp luật. Ở ba dòng cuối của truyện, nhà văn dùng từ anh để thay cho từ hắn.

Trở lại với vấn đề tình huống truyện, nếu hắn vào một nhà giàu có lắm của và vớ bẫm thì sao? Đằng này hắn vào một nhà nghèo, gia chủ nằm tổ lá chuối và đón giao thừa bằng... ngô rang. Đó là Nam Cao. Đôi vợ chồng ăn ngô rang trong thương yêu gắn bó ngọt lịm. Trong truyện ngắn Nam Cao, không có chi tiết, tình tiết nào là nhỏ hay nói cách khác, chúng có thể khiêm tốn về dung lượng nhưng lớn lao về ý nghĩa, tạo ra một bước ngoặt của cốt truyện. Tôi muốn nói đến tình tiết này: Trước khi chạy ào về với vợ, với hai túi đầy ngô rang, hắn - lúc đó vẫn còn là hắn - "bỗng ngẩn người ra một chút". Hắn nghĩ ngợi và đi đến quyết định: Bỏ lại vào cái rá đang hết nhẵn của hai vợ chồng kia một túi ngô rang. Đó là Nam Cao!

Vẻn vẹn 8 trang truyện khổ 13 x 19, "Hai người ăn tết lạ" là cả một "luận án" bằng hình tượng về sự vong thân và hoàn lương nơi con người, trên cõi người. Liệu hình phạt hay nhà tù có thể phục hồi nhân phẩm con người? Nếu bị bắt, nhân vật người ăn trộm trong thiên truyện này có trở nên lương thiện? Vậy mà "hắn" đã tìm thấy ánh sáng trong cái đêm ba mươi tối đến mịt mùng. Đó mới là Nam Cao.

Vì sao tác phẩm của Nam Cao không cần một cây phất trần nào dù thời gian vô tình cứ nghịch ngợm phủ bụi tung tóe lên những gì mà con người đã viết ra? Vì ông thực sự viết về con người. Con người là trung tâm tác phẩm của ông chứ con người không làm nền, không minh họa cho một hoàn cảnh nào, một lý luận nào. Nam Cao luôn đau đáu lo âu và tràn đầy niềm tin về con người trong cuộc hành trình làm người của con người, nhất là những người bị tha hóa đi tìm lại phẩm cách, thiên lương của mình. Ở góc độ này, Nam Cao là một nhà nhân đạo lớn. Một văn tài. Cứ ngỡ "Hai người ăn tết lạ" mới được ông sáng tác cách đây vài ba hôm. Bởi vì hoàn cảnh lớn mà chúng ta đang sống khác với hoàn cảnh lớn thời Nam Cao sống và viết, nhưng hoàn cảnh nhỏ thì còn nhiều điều để trăn trở, thậm chí có mặt đi xuống đến ngưỡng dưới của chấn song đạo đức xã hội như dư luận xã hội đang lo ngại.

Đặng Ngọc Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).