Nghĩ về giá trị vĩnh hằng của tác phẩm văn nghệ

Một nhà xuất bản từng đặt hàng tôi tuyển chọn 100 ca khúc Việt Nam có giá trị nhất của thế kỷ 20. Tôi nhận lời và thống nhất trước với họ thế nào là “có giá trị”. Bởi mỗi người nhìn nhận mọi sự vật, sự việc trong thế giới một khác, hoàn toàn theo cảm quan riêng của mình.

Điều thứ hai là tập sách chỉ giới hạn trong dòng nhạc cách mạng, chứ không hàm chứa mọi tác phẩm của các nhạc sỹ người Việt sống ở mọi miền, sáng tác ở mọi thời điểm, tức là chỉ bao gồm những tác giả mà sáng tác của họ đi suốt chiều dài của cách mạng, kháng chiến và xây dựng đất nước.

Như vậy, tác phẩm của những nhạc sỹ ở vùng địch tạm chiếm cũ (trước năm 1954), vùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát (trước 1975) đã không có mặt trong tập sách mặc dù có không ít bài rất có giá trị. Không phải vì tính “chính trị” gì mà đơn giản chỉ là để cho tập sách không quá dày. Những bài hát có giá trị nhưng được loại ra trong khuôn khổ tập sách này sẽ được chọn trong một tập khác, xuất bản dịp khác.

Tiêu chí về giới hạn tuyển chọn như trên đã dễ thống nhất. Nhưng về giá trị tác phẩm thì quả là rất khó như đã nói. Cuối cùng, họ đã thống nhất với tôi: Hoàn toàn cho tôi quyền lựa chọn tác phẩm và “có giá trị” là theo quan niệm của riêng tôi - người tuyển chọn. Tôi đã chọn theo tiêu chỉ duy nhất là HAY. Cứ bài hay là chọn, xếp theo thứ tự từ số 1 đến 100 (Tất nhiên hay là theo “gu” của tôi). 

Chúng tôi đã thỏa thuận: Vì đã thống nhất là cho tôi quyền cá nhân lựa chọn nên không có việc đem bản thảo đến “tham khảo” bất cứ đâu, bất cứ ai, vì như vậy sẽ “lắm thầy nhiều ma, nhiều cha con khó lấy chồng”. Khi cuốn sách in ra, người tán dương cũng nhiều mà người phản bác cũng lắm. Chỉ bởi những người thuộc dòng ý kiến thứ hai cho rằng tôi đã chọn không “chuẩn”, bài nổi tiếng thì bỏ qua, bài thường hơn thì lại được chọn. Vụ này hồi đó khá vui, rôm rả. 

Văn Cao và Trịnh Công Sơn là hai trong những nhạc sỹ đã đạt được tính vĩnh hằng trong một số tác phẩm.
Văn Cao và Trịnh Công Sơn là hai trong những nhạc sỹ đã đạt được tính vĩnh hằng trong một số tác phẩm.

Trong một lần trả lời phỏng vấn trên báo, tôi nói: “Bài hay không hẳn đã nổi tiếng và ngược lại. Và theo tôi, hay là phải có giá trị vĩnh hằng, chứ không phải chỉ rộ lên một thời, lây lan khắp nơi trở thành nổi tiếng rồi lại nhanh chóng lịm tắt để chẳng ai muốn nghe và hát nữa”.

Trong tập sách đó, đã không có một ca khúc nào của một nhạc sỹ thuộc hàng gạo cội, rất nổi tiếng mặc dù ông được nhiều người coi là “nhạc sỹ lớn” và nhiều bài của ông gần như ai cũng biết, cũng thuộc. Phóng viên phỏng vấn tôi đặt câu hỏi về việc này. Họ còn nói liệu có chuyện tôi vì một thành kiến cá nhân nào đó mà bỏ quên nhạc sỹ này? Tôi trả lời không bao giờ như vậy. Không thể để quan hệ riêng tư xen vào công việc. Tất cả là “chân lý khách quan” (tất nhiên, lại xin nhắc lại là theo quan niệm của tôi - người tuyển chọn). 

Một tác phẩm văn nghệ nói chung, âm nhạc nói riêng chỉ có thể coi được là hay, có giá trị khi tác phẩm đó có tính vĩnh hằng. Tức là phải có khả năng trường tồn mãi mãi, phải được con người của mọi thời đại, mọi tầng lớp xã hội ưa thích chứ không thể chỉ ở một giai đoạn lịch sử nhất định, trong một xã hội, số người nhất định. Muốn đạt được điều này, tác phẩm phải làm nổi rõ con người với tất cả mọi trăn trở, buồn vui, ước mơ, khát vọng… Tóm lại là mọi ngóc ngách trong đời sống tâm hồn của họ phải được miêu tả, phản ánh một cách sâu sắc nhất với tính khái quát cao. 

Một bài thơ, vở kịch, cuốn truyện, bài hát… có thể được công chúng đón nhận, thậm chí là rất nồng nhiệt nhưng chỉ rộ lên một thời rồi chính họ đã thờ ơ, quên lãng thì không thể có giá trị. Dễ hiểu bởi những tác phẩm đó chỉ đón bắt phản ánh những sự kiện lịch sử được số đông người quan tâm mà sao nhãng việc miêu tả đời sống tinh thần của con người với những số phận và tất cả những điều như đã nói. 

Tất nhiên, không có một con người chung chung mà mang dấu ấn thời đại nhưng có những địa hạt là vĩnh hằng. Đó là tình yêu con người (rộng hơn lứa đôi), yêu quê hương xứ sở, yêu cái thiện, ghét cái ác, khát vọng sống, khát vọng vươn lên, đạt đến sự viên mãn. 

Trên thế giới, kịch Sếchspia, Sêkhốp, Raxin, Coócnây, tiểu thuyết của LépTônxtôi, VíchtoHuygô, thơ của Pútskin, Tago, Lamáctin, nhạc của Sôpanh, Béttôven, Sube, Traicốpsky, tranh của Vangốc, Lêvitan, Picátxô và nhiều tác giả lớn khác đạt được tính vĩnh hằng rất cao, muôn đời người ta sẽ vẫn còn ngưỡng mộ, tán thưởng. Đó là những nghệ sỹ có thể nói là vĩ đại của loài người, không bao giờ bị cũ theo thời gian. 

Ở Việt Nam, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ… là những nhà thơ của văn học quá khứ mà tác phẩm của họ đã có giá trị vĩnh hằng rất cao. Trong nền văn học hiện đại, xem ra chưa có nhiều tác giả đạt được điều này. Tuy nhiên, một số tác phẩm cũng có giá trị trường tồn bền lâu tuy có thể tác giả chưa so được với những nghệ sỹ lớn trên thế giới đã nhắc ở trên.

Trở lại sự việc vắng bóng ca khúc của nhạc sỹ vẫn được nhiều người coi là lớn, nổi tiếng trong tập nhạc do tôi tuyển lựa. Sở dĩ như vậy vì tôi cho rằng mặc dù nhạc sỹ này có nhiều bài quen biết nhưng không có được một bài nào mang tính vĩnh hằng. Ông như một họa sỹ giỏi chuyên vẽ tranh cổ động (áp phích) bằng âm nhạc. Mọi sự kiện thời sự, chính trị đều được ông đề cập kịp thời bằng những ca khúc mang tính quần chúng khá hoành tráng (chanson populaire). Nhưng rồi thì cũng qua đi theo thời gian. Và nhạc của ông chỉ nổi rõ các sự kiện xã hội mà mờ nhạt yếu tố con người nhân bản. 

Nhưng cần thấy một khía cạnh khác của vấn đề: Tính vĩnh hằng của tác phẩm văn nghệ đang nói không có nghĩa là tác giả né tránh đề cập đến những đề tài, sự việc mang tính thời sự, nhất thời và cứ nói đến con người là có được tính vĩnh hằng. Vấn đề là đề cập đến như thế nào. 

Trong âm nhạc, có nhiều tác phẩm đạt được yếu tố này của những nhạc sỹ lớn: Đỗ Nhuận, Văn Cao; Lưu Hữu Phước; Hoàng Vân; Huy Du; Phan Huỳnh Điểu; Hoàng Việt; Hoàng Hiệp; Doãn Nho; Văn Ký; Trịnh Công Sơn… “Việt Nam quê hương tôi” (Đỗ Nhuận); “Hà Nội - Huế - Sài Gòn” (Hoàng Vân); “Tình em” (Huy Du); “Chiếc khăn Piêu” (Doãn Nho); “Bài ca hy vọng” (Văn Ký)…là những ca khúc sẽ sống vĩnh hằng là dễ hiểu. 

Nhưng những ca khúc “Chiến thắng Điện Biên”; “Hò kéo pháo”; “Nhạc rừng”; “Anh vẫn hành quân”; “Tiếng gọi thanh niên”; “Tiến về Hà Nội”; “Người con gái sông La”… của họ cũng sẽ không có tuổi thọ ngắn hơn mặc dù những tác phẩm này đề cập đến những sự việc, mốc thời gian cụ thể. Bởi lẽ thế giới tinh thần của con người được các nhạc sỹ khắc họa thật phong phú, sinh động bằng những giai điệu đặc sắc, giàu hình tượng mang đậm yếu tố dân tộc trong ngôn ngữ âm nhạc. 

“Hò kéo pháo” của Hoàng Vân phản ánh một sự việc rất cụ thể: Kéo pháo vào Điện Biên Phủ để tiêu diệt địch. Nhưng bài hát bất hủ đã nói sâu sắc được tính hiệp đồng, ý chí đoàn kết và khát vọng chiến thắng của người Việt Nam khi ấy. Chiến thắng ở một trận đánh cụ thể đồng thời cũng là chiến thắng mọi gian khổ, khó khăn, trở lực trong cuộc sống phải đương đầu với mọi thế lực hắc ám, kể cả thiên nhiên khắc nghiệt. 

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một sự việc cụ thể trong một thời điểm lịch sử cụ thể. Rồi sẽ trôi đi theo thời gian. Nhưng niềm vui chiến thắng, sự kết tinh của ý chí vượt lên chính mình với sức mạnh đoàn kết của nhiều dân tộc, của quân và dân, của niềm tin và khát vọng hòa bình đã được Đỗ Nhuận biểu hiện rất sâu sắc trong bài hát “Chiến thắng Điện Biên Phủ”. 

Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa điệu Sắp qua cầu – một làn điệu chèo quen thuộc với điệu xòe Thái đã tạo nên một giai điệu phong phú, hấp dẫn, thể hiện sinh động mối gắn kết giữa đồng bào miền xuôi và Tây Bắc trong việc đoàn kết chống giặc và chiến thắng vẻ vang làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. 

Trịnh Công Sơn là một hiện tượng đặc biệt. Phần lớn ca khúc của ông đều đề cập đến thân phận và tâm trạng con người trong cuộc sống biến động và nhiều loạn lạc. Bất cứ ai ở bất cứ thời điểm nào cũng dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm từ những giai điệu rất giản dị mà sâu lắng, độc đáo, đậm chất Thiền của ông. Ai ở tầng lớp xã hội, xu thế chính trị nào cũng dễ dàng cảm thấy được an ủi khi nghe những ca khúc của ông mỗi khi thấy lòng mình chơi vơi, chống chếnh.

Tính vĩnh hằng chính là yếu tố làm nên giá trị bất hủ của tác phẩm văn nghệ. Nhưng đạt được quả là rất khó. Sẽ dễ dàng công nhận điều này nhưng phấn đấu để có được thì không phải người sáng tác nào cũng có thể vươn tới. Bởi nó đòi hỏi một “phông” văn hóa, trình độ tư duy, sự hiểu biết sâu rộng về thế giới, nhất là về con người, khả năng phân tích con người và xã hội, khả năng khái quát cao, triết lý sâu sắc.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).