Nghệ thuật trang trí nhang án gỗ thế kỷ XVII ở Chùa Thầy

Nghệ thuật trang trí trên nhang án gỗ thế kỷ XVII ở Chùa Thầy đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Đó là sự tinh xảo, điêu luyện của nhiều kỹ thuật chạm khắc truyền thống, trong đó nổi bật là nghệ thuật chạm bong, chạm thủng, chạm lộng. Những đề tài trang trí trên nhang án gỗ thế kỷ XVII phong phú với những mô típ, hoa văn gắn với những hình tượng linh thiêng như: Rồng, phượng, mây đao mác, hoa, lá...

Nhang án với chức năng là bàn thờ nơi để bày biện một số đồ thờ bên trên như bát hương, chân đèn, đồ cúng lễ… được đặt trang trọng nơi Tam Bảo thờ Phật, khu vực thờ Thánh hoặc thờ Mẫu. Nghệ thuật trang trí nhang án là nghệ thuật chạm khắc các đường nét, màu sắc, hình khối, họa tiết, mô típ một cách hài hòa, để tạo nên giá trị thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật.

Mặt trước nhang án gỗ Chùa Thầy.
Mặt trước nhang  án gỗ Chùa Thầy.

Chùa Thầy tên chữ là “Thiên Phúc tự” thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Chùa quay về hướng Nam, phía trước nhìn ra hồ Long Chiểu. Nghệ thuật trang trí trong Chùa Thầy được thể hiện trên thành phần kiến trúc ở cả ba tòa nhà chính (chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ), đặc biệt trong chùa còn lưu giữ một nhang án gỗ thế kỷ XVII ở tòa thượng điện. Đây là một trong những hiện vật có giá trị về nghệ thuật cao tiêu biểu cho nghệ thuật chặm khắc thế kỷ XVII còn tồn tại đến ngày nay. 

Trong chùa còn có một nhang án gỗ mang phong cách thế kỷ XVIII tại chùa Trung, cùng với kiểu dáng của nhang án thế kỷ XVII như dạng chân quì dạ cá, song về kích thước, mô típ, phong cách thể hiện đã có sự thay đổi khác biệt so với nhang án thuộc thế kỷ XVII. Đến thế kỷ XIX hình thức nhang án chuyển sang kiểu dáng chân cao, phần chân không còn được làm kiểu chân quì như thế kỷ trước, kích thước thu nhỏ lại, mô típ, phong cách chạm đã có sự thay đổi rõ rệt với việc hình chạm khắc không cầu kỳ, phức tạp như ở thế kỷ XVII.

Các mô típ trang trí nhang án Chùa Thầy

Mô típ trang trí hình rồng kết hợp mây đao mác:

Quan sát nhang án gian thượng điện ở Chùa Thầy, mô típ hình rồng đao mác là chủ đạo được dùng trang trí nhang án ở cả bốn mặt. Nghệ thuật trang trí tại Chùa Thầy tương đối giống các chùa khác cùng thời, hình rồng luôn là biểu tượng của sự uy quyền, được vận dụng một cách linh hoạt và hài hòa trong không gian chùa Việt.

Trang trí đường diềm nhang án gỗ Chùa Thầy.
Trang trí đường diềm nhang án gỗ Chùa Thầy.

Mô típ rồng kết hợp đao mác trang trí trên nhang án Chùa Thầy đã có sự thay đổi về hình dáng và bố cục nhưng luôn là vị trí chủ đạo trên tổng thể nhang án. Hình rồng được chạm ở phần trung tâm, phần thân, chân, yếm che và không có tai góc. Đối với trang trí được chia ô hộc như ở phần thân nhang án, mô típ hình rồng đã thay đổi về bố cục kiểu dáng. Ở phần thân nhang án, mô típ rồng được thể hiện với chiều nhìn chính diện, lộ rõ gương mặt, mắt mũi, miệng và các đao mác tỏa mạnh lên trên và sang hai bên một cách rõ rệt, dứt khoát. Ở đây các mô típ được thể hiện trong bố cục nhìn thoáng và khỏe khoắn hơn, thể hiện sự uy quyền mạnh mẽ.

Chùa Thầy mô típ hình rồng chầu mặt trời luôn là hình thức phổ biến trên nhang án thế kỷ XVII và còn phổ biến vào giai đoạn sau. Mô típ này ở phần trung tâm của yếm che, nếu ở phần thân chiều hướng không tập trung thì ở phần yếm, hình rồng chầu mặt trời trên nền vân xoắn là điểm nhìn tập trung trên tổng thể nhang án. Hai hình rồng đối xứng, phần này kết hợp rồng, mây cụm, mây đao mác, mặt trời, được trải dài theo chiều ngang, một cách rất thoáng và thoải mái. Mô típ rồng nhìn nghiêng chầu vào giữa, các đao mác được kéo vút ra phía sau, song song các lớp dài, ngắn thay đổi tạo sự chuyển động nhịp nhàng trong hệ thống đao mác. Với đặc trưng rồng thế kỷ XVII chạm đao mác nhọn đầu, đuôi thẳng, mây xoắn...

Mô típ trang trí hình chim Phượng:

Mô típ trang trí hình hoa sen, hoa cúc đường diềm cách điệu:

Hình phượng nhìn nghiêng nhang án Chùa Thầy.
Hình phượng nhìn nghiêng nhang án Chùa Thầy.

Nhang án tòa Thượng điện Chùa Thầy, mô tip hình Phượng được bố cục trong khuôn hình chữ nhật, đăng đối nhau tạo nên một thể hòa hợp. Nếu như ở thời Mạc hình chim Phượng được thống nhất trang trí kết hợp với mây xoắn, hoa lá thì đến thế kỷ XVII những yếu tố dân gian được phát triển mạnh mẽ hơn, hình tượng chim Phượng có cánh mềm mại, uyển chuyển... 

Nhìn chung Phượng nhang án Chùa Thầy chạm khắc theo hình dáng nhìn nghiêng, không chỉ được chạm trên nhang án gỗ mà còn gắn bó mật thiết trên nhiều vị trí khác trên kiến trúc. Về tạo dáng thì dù chạm ở trên nhang án gỗ hay trên thành phần kiến trúc khác, hình Phượng vẫn luôn giữ những vẻ đẹp điển hình như mỏ quặp, tóc như chim trĩ bay ngược ra phía sau tạo nên những lớp đao xếp mềm mại, cổ của chim Phượng thường được trang trí kiểu khấc, phần thân có đao mác bay ra phía sau, với cách tạo dáng trên và mang những đặc điểm của thế kỷ XVII hình tượng chim Phượng luôn trong tư thế như đang chuyển động. 

Cũng chính bởi cách chạm theo lối này mà gợi ra không gian lớp trước, lớp sau, đan xen, cánh và đuôi của hình chim Phượng cho thấy đây là sự chắt lọc về tạo hình nhưng về bút pháp thể hiện hết sức thoải mái, nét mau, thưa, trầm, bổng các họa tiết, mây, hoa lá... đặc điểm thế kỷ XVII. Hình tượng chim Phượng được chạm dưới hình thức phù điêu, đôi khi có chạm thủng, chạm nông với bố cục đăng đối nhau. 

Nếu như mô típ hình rồng thống nhất có ở cả phần thân, phần chân và yếm che thì mô típ hình Phượng được sử dụng ít hơn, thường nằm ở vị trí phụ, diện tích nhỏ trên tổng thể nhang án và làm cho đề tài thêm phong phú, sinh động. Nhìn chung, về đặc điểm nghệ thuật trang trí hình chim Phượng nhang án Chùa Thầy vẫn tuân theo những nguyên tắc và sự hài hòa của nghệ thuật dân gian truyền thống, phần lớn là hình dáng được thể hiện trong tư thế động, sự tinh tế trong cách chạm hình, khối, nét làm nên đặc điểm riêng mô típ phượng thời này.

Mô típ hoa sen ở Chùa Thầy cũng như ở các chùa khác cùng thời, được trang trí ở nhiều vị trí khác nhau và có vai trò khác nhau. Với nhang án chùa Thầy mô típ hoa sen chủ yếu được trang trí tạo thành đường diềm của các phần trên nhang án, một mặt là để làm đẹp cho bề mặt nhang án, mặt khác làm tăng giá trị nghệ thuật và sự linh thiêng cho nhang án.

Trên tổng thể nhang án gỗ các đường gờ, đường ngăn cách các phần với nhau được trang trí mô típ hình cánh sen, cách thể hiện cánh sen khác nhau tạo nên sự phân biệt giữa các phần một cách dễ dàng. Phần mặt nhang án Chùa Thầy không có trang trí hoa sen. Một phần là kích thước nhang án chùa Thầy hẹp, dãn Hình phượng nhìn nghiêng nhang án Chùa Thầy. phào chỉ các phần với nhau tạo khoảng cách hẹp và trải rộng chiều ngang hơn. Cũng chính sự thay đổi này mà các phần, các mô típ được người nghệ nhân xưa thể hiện phù hợp và tinh tế cho từng nhang án thời kỳ này.

Kỹ thuật và hiệu quả nghệ thuật chạm khắc nhang án Chùa Thầy

Nhang án Chùa Thầy chủ yếu được chạm khắc nổi, chạm lộng và chạm thủng trên bề mặt, kỹ thuật chạm có sự thống nhất giữa bốn mặt với nhau. Nếu như ở phần mặt nhang án được chạm thủng hoa cúc tạo thành đường diềm nhỏ, nối tiếp đến phần thân kỹ thuật đã được thay đổi, kết hợp giữa chạm nổi và chạm thủng trong khuôn hình được định sẵn và ngăn cách bởi các đường chỉ khắc vạch. 

Hình rồng ở nhang án Chùa Thầy được nghệ nhân xưa chạm nổi rất tinh tế và mềm mại, các đường nét chạm trở nên thanh thoát, nhịp nhàng gắn kết chặt chẽ với nhau bằng nét, khối, mảng. Phần chạm thủng được thể hiện dày hơn, tạo không gian sâu vào bên trong nhang án làm tăng độ tương phản đậm nhạt và sự sinh động cho mảng được chạm. 

Đường diềm cánh sen ở nhang án này khác với nhang án khác cùng thời là được chạm thủng cánh sen dẹo. Ngắt giữa phần thân và chân nhang án là được chạm thủng, chạm nổi bởi hàng hoa văn trang trí, phần này nghệ nhân xưa đã khéo léo tạo nên những khoảng trống, khoảng thủng, khoảng rỗng, cùng kỹ thuật chạm hình và nét càng làm cho nhang án trở nên sinh động, phong phú mà vẫn tạo sự linh thiêng sâu lắng.

Hình rồng nhìn chính diện nhang án Chùa Thầy.

Hình rồng nhìn chính diện nhang án Chùa Thầy.

Qua việc phân tích về hình thức trang trí nhang án, các mô típ trang trí trên nhang án, kỹ thuật và hiệu quả nghệ thuật chạm khắc nhang án Chùa Thầy, kết hợp với những yếu tố từ không gian, ánh sáng đều đóng một vai trò rất quan trọng. Giá trị nghệ thuật nhang án Chùa Thầy là sự cân bằng hoàn chỉnh các hình thức chạm khắc trang trí, làm nổi bật được nội dung chủ đề, tạo ấn tượng thị giác. 

Nhang án thượng điện Chùa Thầy là sản phẩm thể hiện bàn tay, trí tuệ của người nghệ nhân xưa, mang dấu ấn quan trọng của nghệ thuật chạm khắc, trang trí Việt Nam thế kỷ XVII nói riêng và lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung.

Lương Thu Hương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).