Ngày xuân nghe "Tiếng xuân về trong đêm"

Mưa xuân nhẹ bay. Cái không khí nồm ẩm, ướt ấm ấy dường như là nỗi khát khao, mong chờ của cây cỏ, vạn vật nhân gian. Những cành khô cong queo, những ngọn cây héo hắt, vật vờ trong gió lạnh chợt trỗi dậy, bừng lên, bật tung nhựa sống. Sức xuân tràn về, trải những mầm xanh mơn mởn.

Vô tình hay hữu ý, tôi gặp ông, vị tướng Công an về hưu Bùi Quảng Bạ cũng là thành viên Hội Nhà văn Hà Nội. Yêu thơ, yêu tâm hồn thơ vừa trẻ trung, vừa nhuốm màu hoài niệm, tôi đã được ông chia sẻ "Tiếng xuân về trong đêm" trong cái ồn ào, náo nhiệt, hứng khởi của mùa gặp gỡ.

ảnh trang 16, hoa xoan loài hoa của tháng ba xuân.jpg -0
Hoa xoan - loài hoa của tháng ba xuân.

Mơ màng giữa đêm khuya
Tiếng xuân về trong gió
Nồng nàn như hơi thở
Ấm bờ vai ngày nào

Tiếng xuân về xôn xao
Bồi hồi trên chồi lá
Nghe vừa quen, vừa lạ
Như tình yêu ban đầu

Hương xuân về trong nhau
Ngọt ngào mùa sương gió
Như tình trong nỗi nhớ
Tìm nhau khi đợi chờ.

Tiếng xuân như nàng thơ
Thì thầm ngoài khung cửa
Lời hẹn hò mỗi bữa
Thuở đợi nhau bên thềm

Tiếng xuân về dịu êm
Nhẹ nhàng căn phòng nhỏ
Nửa đêm trời trở gió
Thấy lòng mình xốn xang.

Mùa xuân, dường như là niềm cảm hứng bất tận của thi ca. Từ xưa đến nay, có bao giờ thiếu vắng thơ xuân. Và nếu để ý chút thôi, ta dễ dàng nhận thấy cái đa sắc, đa màu, đa hình, đa tình của thời gian và không gian khi mùa xuân đến. Cũng chẳng có gì là lạ khi cụm từ "mùa xuân đến" được nhiều tác giả "yêu" dùng, "sính" dùng. Ví như Nguyễn Bính: "Đây cả mùa xuân đã đến rồi"; Huy Cận: "Sớm nay khoác áo màu vô định/ Ra gặp mùa xuân đến giữa đàng" (Áo xuân); Tú Mỡ: "Mùa xuân đến rồi/ Ánh xuân tươi sáng" (Mùa xuân); Lê Mỹ Hường: "Xuân đang đến, chào xuân đang đến" (Xuân ca)…

Rồi cụm từ "xuân về" cũng gắn với bao tiếng lòng thi sĩ. "Xuân về nắng toả ngọt ngào"; "Xuân về gọi lộc nảy mầm/ Xuân về gọi gió mưa dầm sương bay"; "Xuân về rực thắm cánh đào"… Thế nhưng tìm mỏi mắt cũng không thấy "Tiếng xuân về", và càng độc đáo hơn khi tiếng xuân ấy lại vọng về từ đêm khuya, từ cái "mơ màng" của thi sĩ, để rồi hiện hữu trong bao chiều cảm xúc rất đời, rất thật.

Bài thơ 5 khổ cân đối, khổ thơ nào cũng có "xuân". Xuân trong "hơi thở" (khổ 1), xuân "trên chồi lá" (khổ 2); xuân "trong nỗi nhớ" (khổ 3); xuân "ngoài khung cửa" (khổ 4); xuân trong "căn phòng nhỏ" (khổ 5). Điều đặc biệt ở đây là tiếng, "tiếng xuân", là sự cảm nhận bước về của xuân vô cùng tinh tế, dịu êm. Nếu xét theo thời gian và không gian vật chất, đâu khó khăn gì để khẳng định không gian phòng nhỏ vào một đêm xuân. Chính nó là cái duyên, cái cớ, là điểm về của tiếng xuân.

Tiếng xuân về bên người tri kỷ, hóa thân trong hơi thở nồng nàn, trong âm thanh xôn xao mang bao cảm giác bồi hồi như quen, như lạ để rồi hòa "trong nhau", đan vào nhau. Hương xuân quyện lẫn, đâu còn phân biệt tiếng, phân biệt hình. Tiếng xuân và tiếng lòng nhà thơ hòa chung nhịp "đợi chờ" với bao dư vị ngọt ngào của "tình trong nỗi nhớ". Thực khó ngờ, một vị tướng Công an cả đời gắn với binh nghiệp lại nhẹ nhàng "bắt" được hồn xuân như thế.

Hương xuân về trong nhau
Ngọt ngào mùa sương gió
Như tình trong nỗi nhớ
Tìm nhau khi đợi chờ.

Hương xuân đọng lại "trong nhau" tưởng chừng tĩnh, mà không chút đứng im. Giây phút "Ngọt ngào mùa sương gió" đi qua, tiếng xuân lại "thì thầm" như mãi thuở hẹn hò, thuở "đợi nhau bên thềm". Buông một từ "thuở", ký ức xa xưa tràn về. Này là nỗi nhớ, này đây niềm thương, này đây giây phút khắc khoải đợi chờ. Và hạnh phúc tràn dâng trong thời khắc hội ngộ. Rồi lại chia xa, rồi lại đong đầy nỗi nhớ, rồi lại xốn xang mong chờ. Quy luật của tạo hóa hay quy luật của lòng người, quy luật của tình yêu? Có cần phải phân biệt rạch ròi thế chăng khi tiếng xuân vẫn thì thầm, dịu êm.

Cái hay, cái tinh tế của nhà thơ có lẽ chính là "nắm bắt" được, "cột" được tiếng xuân. Từ bước đến đầu tiên vào thời khắc nửa đêm đầy "mơ màng" như hư, như thực, mong manh trong gió, trong hơi thở tưởng chừng chỉ một chút động nhẹ sẽ làm tiếng xuân vụt biến giữa hư không, đến tiếng xuân có hình, có đầy đủ cung bậc: "xôn xao", "ngọt ngào", "thì thầm", "dịu êm", "nhẹ nhàng" và kết thúc bằng cảm xúc "xốn xang". Và lạ hơn nữa là nhịp về của "tiếng xuân", là thời điểm "tiếng xuân" xuất hiện. Tiếng xuân về "giữa đêm khuya" để lay động thời gian, đánh thức tình người.

Tiếng xuân về nhảy nhót trên mỗi nhịp thơ. Từ nhịp 2 - 3, tiếng xuân nhanh chóng chuyển sang nhịp 2 - 1 - 2 và đổi nhịp 1 - 2 - 2; 3 - 2 rồi lại trở về với nhịp 2 - 3. Sự linh hoạt trong nhịp thơ ấy tạo nên âm sắc đặc trưng của Tiếng xuân, vui tươi mà nồng ấm.

Cám ơn ông, vị tướng Công an có tâm hồn trẻ trung, tinh tế, thi vị. Với "Tiếng xuân về trong đêm", ông đã góp thêm một góc nhìn lắng sâu về mùa xuân.

Lan Nguyễn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).