Ngày giỗ - Một bản sắc Việt!

Ngày xưa trong mỗi gia đình Việt thường treo nhiều câu đối, câu hay gặp được treo trang trọng trước bàn thờ gia tiên là: “Chín chữ cù lao công đức nặng/ Một lòng thành kính khói hương thơm”...

Chín chữ ấy là “Sinh” (sinh thành); “Cúc” (nâng niu); “Phủ” (âu yếm); “Súc” (bú mớm); “Dục” (dạy dỗ); “Cố” (trông nom); “Phục” (uốn nắn); “Phúc” (che chở). Đó là sự nhắc nhở chữ “Hiếu” cho người con có cha mẹ đã khuất núi, nhớ về công lao nuôi dạy của các bậc mẹ cha mà thành kính tưởng nhớ. Ngày trước vào nhà ai, nhìn vào câu đối sẽ biết gia cảnh để khách có ứng xử tương ứng.

Nhưng đây mới chỉ là “tiểu hiếu”. Theo lối chiết tự từ Hán Việt thì chữ Hiếu có hai bộ, gồm bộ “lão” chỉ người già ở phần trên và bộ “tử”, chỉ con cái, ở phía dưới. Hàm ý tượng hình của chữ “Hiếu” là chỉ hình ảnh một người con cõng cha (mẹ) già. 

Chữ Hiếu là một tiêu chí cơ bản để đánh giá phẩm chất đạo đức con người. Hiếu là hết lòng nuôi dưỡng, thờ kính bố mẹ. Nho giáo chia “Hiếu” thành ba bậc: “Tiểu hiếu” (kính trọng, nuôi dưỡng, thờ phụng); “Trung hiếu” (không làm cha mẹ buồn phiền); “Đại hiếu” (làm vinh danh cha mẹ, dòng họ, quốc gia). Ngày nay có “lãnh đạo” to làm giỗ bố/mẹ cũng thật to rồi dùng “thiệp mời” ghi rõ chức danh mời cán bộ thuộc quyền đến dự, thì không đúng với chữ “Hiếu” mà có khi là lợi dụng để làm việc khác, mờ ám…

Bàn thờ gia tiên của người Việt.
Bàn thờ gia tiên của người Việt.

Đúng với bản chất của ngày giỗ là tưởng nhớ người đã khuất có công sinh thành dưỡng dục nên cần trước hết là lòng thành. Có khi chỉ là một chén nước (mưa) trong, một quả trứng, một nén hương, một hành động vái lạy thành tâm. Ngày giỗ cũng là dịp con cháu trong nhà quây quần tụ họp chia sẻ, noi gương và cầu mong tiền nhân tiên tổ phù hộ độ trì cho mạnh khoẻ, làm ăn thành đạt… Có mời ai cũng phải họ hàng thân thích, đáng kính…

Người ta thường làm cỗ trong đó có những món mà người đã khuất bình sinh thích ăn hoặc hay dùng. Từ nét nghĩa gốc này mà có thể giải thích vì sao trong mâm cỗ cúng của người Việt (ngoài Bắc) thường có đĩa xôi. Đấy chính là bóng dáng văn hoá xa xưa đã hàng ngàn năm còn in hình lại đến hôm nay: khi dời núi cao xuống đồng bằng, tưởng nhớ tổ tiên ngày trước thường ăn cơm nếp (nương) nên trong mâm cỗ thường có đĩa xôi.

Đĩa xôi trong mâm cỗ cúng quý và thiêng nên thường để chia phần. Xôi gấc càng quý. Thành ngữ “Ăn mày còn đòi xôi gấc” có lẽ ra đời từ hoàn cảnh ấy. “Ăn mày” thường lợi dụng lân la các đám (giỗ) để xin ăn…

Người ta chuẩn bị giỗ về tinh thần nhiều hơn về vật chất. Phải chuẩn bị về thời gian, tức ngày cúng để báo cho con cháu. Ngày cúng thường là ngày mất hoặc trước đó một vài ngày chứ không sau ngày mất. Vì đông người nên buổi giỗ (trưa hay chiều) còn phải tổ chức để “Vừa được buổi cày vừa hay bữa giỗ” tức người dự vừa xong việc nhà vừa đến được một cách thoải mái nhất. Con cháu dù xa cũng phải về/gửi trước một ít vật chất để “góp/đóng giỗ” theo nguyên tắc rất nhân văn: “Con giàu một bó/ Con khó một nén”.

Người giàu góp nhiều, người nghèo góp ít, tuỳ tâm. Vì là việc thiêng nên không bao giờ có chuyện kỳ kèo. Chủ lễ cúng thường là con trưởng (trưởng nam) phải mời những người nên mời, có khi phải mời đi mời lại. Khách được mời tới ăn giỗ “đáp lễ” bằng thẻ vàng hương, trầu rượu, hoa quả.

Thay mặt gia đình, con cháu đón đồ lễ đặt lên bàn thờ gia tiên. Khách đến trước bàn thờ lạy hai hoặc bốn lạy. Gia chủ (thường là trưởng nam) đáp lễ khách bằng cách vái một vái. Đây cũng là một mã triết lý: âm (người chết) ứng với số chẵn, dương (người sống) ứng với số lẻ.

Ngày giỗ thì trưởng nam (chủ lễ) vất vả nhất, phải lo lắng món cúng, mâm cúng, phải đứng ra cúng bái, phải sắp xếp “các cụ”, con cháu vào mâm. Câu “Lời chào cao hơn mâm cỗ” có trong trường hợp này. Câu “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết” cũng xuất phát từ đây. Vì phải cúng, phải mời mọc, phải quán xuyến nên chủ lễ có khi dù đói cũng chưa được ăn, thường ăn sau cùng.

Tại sao người Việt chú ý đến ngày chết hơn ngày sinh? Trước hết là nằm trong vùng văn hoá phương Đông trọng âm, theo lịch âm, sinh hoạt theo triết lý âm dương. Mà “sống” là “dương”, “chết” là “âm”. Người chết và người sống tuy “âm dương” cách biệt nhưng vẫn có mối liên hệ. Vào ngày Tết, ngày giỗ con cháu thắp nén hương mời người chết về “sinh hoạt” cùng “gia đình”.

Từ quan niệm “trần sao âm vậy” nên không chỉ coi trọng ngày chết/ngày cúng giỗ mà còn rất quan tâm đến mồ mả người đã khuất: “Sống vì mồ vì mả/ Không sống vì cả bát cơm”. Mồ cụ Tổ của dòng họ được cả họ giữ gìn (Giữ như giữ mả Tổ) vì liên quan đến sinh mệnh cả họ.

Ở ngày hôm nay chúng ta đang thấy có một sự thái quá trong việc xây dựng mồ mả, có khi quan tâm đến “nhà” người chết hơn nhà người sống. Người ta tranh đua nhau trong việc xây “mồ to mả đẹp” nên có nơi nghĩa trang được xây dựng rất “hoành tráng”, tốn kém! Điều này không đúng với chữ “Hiếu” mà cổ nhân dạy. Không đúng với “Tiểu Hiếu” là phụng dưỡng cha mẹ lúc sống, là lòng thành tưởng nhớ khi cha mẹ khuất núi. Càng không đúng với “Đại Hiếu” là ra sức học hành, lao động thành tài để giúp dân giúp nước cho dòng họ vẻ vang chứ không phải vì câu chuyện “mồ” to “mồ” nhỏ!!! Giá người ta bớt tiền xây mộ to để trồng cây quý ở nghĩa trang, cây lớn lên vừa có cảnh quan đẹp, môi trường sinh thái mát mẻ, các linh hồn lại có chỗ trú ngụ thì tốt biết bao!

Còn một lý do nữa là ngày trước phần lớn dân số mù chữ, việc làm “Giấy khai sinh” rất khó khăn. “Nhà nước” cũng ít quan tâm đến chuyện “chứng sinh” nên chẳng mấy ai nhớ ngày đẻ của mình.

Quang cảnh ngày Giỗ Tổ Vua Hùng.
Quang cảnh ngày Giỗ Tổ Vua Hùng.

Ngày giỗ là nét văn hoá cơ bản của người Việt dung chứa trong đó nhiều nét nghĩa còn chìm ẩn mà khám phá sâu sẽ tìm ra nhiều điều thú vị. Từ “nhà” ra “nước”. Người Việt có ngày Giỗ Tổ độc đáo. Độc đáo vì xét trên cả thế giới, Việt Nam là nước duy nhất có ngày “Quốc Giỗ” này. Xét về quy mô thì đó chính là ngày giỗ có ở bất kỳ gia đình nào được mở rộng thành cấp quốc gia. Nó chứng minh sinh động nhất tinh thần đoàn kết “anh em bốn bể” một nhà, chứng minh mỗi người dân Việt đều là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ, tất cả đều từ một bọc sinh ra. Với người Việt hai chữ “đồng bào” thật thiêng liêng, không còn là chuyện chữ nghĩa mà là vấn đề bản chất nguồn cội.

Người ta nhắc nhau: “Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba/ Khắp miền truyền mãi câu ca/Nước non vẫn nước non nhà nghìn năm”. Không chỉ con cháu mà thiên nhiên đất nước cũng về “giỗ”: “Tháng ba nô nức hội đền/ Nhớ ngày Giỗ Tổ bốn nghìn năm nay/ Dạo xem phong cảnh trời mây/ Lô (sông), Ðà (sông), Tam Ðảo (núi)cũng quay đầu về/ Khắp nơi con cháu ba kì/ Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài/ Sở cầu như ý ai ơi/ Xin rằng nhớ lấy mồng mười tháng ba!”.

Tại sao ngày Giỗ là ngày “mồng mười tháng ba”? Có nhiều cách giải thích. Theo triết lý “âm dương ngũ hành” thì số 3 (tháng 3) là số của Địa chi, số 10 (ngày 10) là số của Thiên can. Tháng 3 là tháng Thìn, Thìn là con rồng, đọc theo âm Hán Việt là Long. Long đồng âm với từ “Lang” từ cổ, nghĩa là vua, người cầm đầu. Số 10 là can kỷ, kỷ là kỵ (giỗ). Cách giải thích còn gò ép nhưng cũng là ý kiến đáng tham khảo.

Theo truyền thuyết thì ngày Giỗ Tổ có từ thời Thục Phán. “Tổ” ở đây là người sinh ra Lạc Long Quân, tức Kinh Dương Vương. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”: Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc Hồ Nam, Trung Quốc), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương, lấy quốc hiệu Xích Quỉ.

Kinh Dương Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất (2897 TCN), lấy con gái Động Đình Hồ quân (tức Thần Long) là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi xưng là Lạc Long Quân

Cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh (đền thờ Vua Hùng) có ghi: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trông nom…”. Trên sử sách và tài liệu hiện tồn còn tham khảo được thì trước đây, người dân tại xã Hy Cương (phủ Lâm Thao) lấy ngày 11.3 làm lễ Giỗ. Con cháu các nơi lại thường đến Giỗ vào các cữ xuân - thu, lúc nông nhàn. Năm 1917 Bộ Lễ (triều Khải Định) ấn định lấy ngày mùng 10.3 hằng năm kính tế Quốc Tổ Hùng Vương.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).