“Ngày chưa sương vội”: Một cách thơ “chín dần trong bình thản”

Tập thơ "Ngày chưa sương vội" không là cơn mưa rào cảm xúc. Nó là một làn sương. Một vùng sáng. Một tiếng gọi lên đường.

1. Trần Việt Hoàng tự nhận mình là “kẻ trọ giữa giấc mơ tìm mình” (Những giọt sương rơi). Tín niệm này không chỉ là một tuyên ngôn nghệ thuật mang sắc thái lãng mạn hiện sinh, mà còn mở ra toàn bộ hành trình cảm thức thơ của một người trẻ đang khắc khoải truy tìm bản thể mình giữa những mảnh vụn thời gian, cánh đồng thơ, vùng sương mờ để chạm gặp miền sáng.

"Ngày chưa sương vội" (NXB Hội Nhà văn, 2024) không phải một tập thơ cố gắng bứt phá theo hướng hình thức; nó điềm tĩnh và sâu như một nhánh sông hồi tưởng. Chính nhờ cái lực bên trong, cái tâm thái “chín dần trong bình thản” (Thu khác) ấy, thơ Trần Việt Hoàng mở ra một thế giới tinh tế, nơi ánh sáng thẩm thấu từng cánh lá, từng giọt sương, từng nỗi người - một thứ ánh sáng "làm trong hơn cuộc hình dung” (Đỉnh đồi).

z6740831189518_f9b0816fc7b9927c488efa1eaf6bafc3.jpg -0
Tác giả trẻ Trần Việt Hoàng.

2. "Ngày chưa sương vội" là một tập thơ hồi cố - không theo nghĩa hoài cổ ủy mị, mà là một nỗ lực của chủ thể đi ngược vào bên trong để soi chiếu lại chính mình, thời mình. Thi sĩ không khước từ ký ức, nhưng cũng không cư trú mãi trong hoài niệm, chìm trong quán tính trì trệ của quá vãng, như lời tự phản: “hãy đi xa từ chính con đường/ đừng điểm trang quá nhiều lên gương mặt ký ức” (Gương mặt ký ức). Đó là một cách hồi cố tỉnh táo, đầy kiểm soát, nơi ký ức được trì bồi như một nguồn nhiên liệu sống, không phải để ăn bóng, mà để làm bệ phóng: "chờ đợi chuyển thành mây/ cuộc rong ruổi loang theo tiếng phi ngựa trắng” (Ánh nhìn).

Trong "Tìm lại những đường cày", hình ảnh cha mẹ hiện lên không bằng nước mắt, không bằng bi kịch, mà bằng sự im lặng nhẫn nại gắn kết với đất đai quê xứ: “cha lầm lụi một đời/ cho mẹ gieo ngô trồng khoai/…/ để ngô biếc khoai xanh/ dáng mẹ cha thành nét khắc của một bức tranh”.

Tập thơ nhiều lần chạm vào miền hồi tưởng, nhưng không sướt mướt. Ký ức hiện diện qua tiếng gà ban mai, con đê mùa cũ, hoa đại rơi, bậc cầu thang mơ hồ… Cũng trong "Gương mặt ký ức", người thơ nhìn về tuổi thơ như một nỗ lực gìn giữ: “tre xanh hơn cuối khu vườn của mẹ/ gió thổi mỏng bức tường cũ/ giấc ngủ mất bóng người canh trông/ mơ mộng còn nơi vì sao rụng xuống”.

3. Không phải ngẫu nhiên tập thơ mở đầu bằng bài "Hồi tưởng" và khép lại bằng bài "Phút hình dung". Đó là một vòng cung: từ nhớ đến mường tượng, từ cũ đến mới, từ bóng sang ánh. Người thơ không cao giọng tuyên ngôn đúc kết khái quát, mà “chỉ nói lời khẽ” (Ngày xa). Hành trình sống với thơ là hành trình khiêm cung cầu thị đối thoại với tha nhân, để "chầm chậm tới mình”. "Sương ở đây không vỡ vào ban mai/ nên long lanh cũng biết cúi đầu” (Khúc rừng).

Trong "Uống rượu với hoàng hôn", thơ gần như thủ thỉ, độc thoại, rưng rưng: “ngày cạn/ nơi những ngón tay gân guốc đen nhẻm/ nơi cánh của một làn chim bay/ nơi chén của một người chưa say/ hơi rượu thơm mùi chơi vơi/ hừng lên từ hoàng hôn vời vợi”.

Sức quyến rũ của thơ nằm ở sự mờ nhòe của câu chữ, ở sức ngân rung của nhịp điệu tâm hồn. Ngay cả trong những bài có tính hướng ngoại, có chủ ý đề tài - đặc biệt ở phần cuối - Trần Việt Hoàng vẫn không đổi giọng điệu. Vẫn một lối viết đề cao khả năng ám gợi, tiết chế, nhiều khoảng lặng, khoảng trắng: “người lính trở về sau bão/ trên vai này thêm những vì sao/ đồi dứa ngoài kia xôn xao/ đỉnh lá nhọn sắc cứa mãi vào gió” (Khoảng lặng).

4. Tập thơ có thể phân tầng thành ba lớp chính:

Địa tầng ký ức cá nhân - tuổi thơ - gia đình, với các bài như: "Gương mặt ký ức", "Trước thu", "Tháng Tư", "Ngày xa", "Tìm lại những đường cày"… Trong đó, hình ảnh người mẹ hiện lên bình dị sáng trong: “mẹ nghĩ về núi đồi/ cúc trắng trước gió/…/ mặt mẹ bình dị như nắng cũ” (Trước thu).

z6740831587315_35a9c15ff776f9773f141ff3b7151c90.jpg -1
Tác phẩm mới của Trần Việt Hoàng.

Địa tầng không gian - lịch sử - bản sắc, với loạt bài như: "Bên nếp nhà sàn", "Một thoáng Phong Điền", "Viết ở Đồng Lộc", "Viết ở Trung đoàn 165", "Khẩu đội", "Điểm tựa", "Đỉnh đồi", "Cơn mưa tháng Năm"… Trần Việt Hoàng vẽ nên một bản đồ văn hóa - lịch sử bằng thơ. Không sa vào lối mòn cổ động hay minh họa, mà là mở ra những bức tranh hồi quang cảm xúc. Chẳng hạn, trong "Viết ở Đồng Lộc": “cỏ thao thức bên miệng hố bom/ những non xanh lặng lẽ/ chiến trường còn những mặt gương/ phản chiếu giấc mơ”.

Địa tầng chiêm nghiệm - hiện sinh, thể hiện rõ trong các bài: "Phức cảm", "Tự họa", "Tự sự", "Chuyến đi", "Khoảng lặng"… Nhiều câu thơ vỡ ra từ tâm tưởng, mang âm sắc triết cảm. Trong "Phức cảm", thi sĩ viết: “nỗi buồn dìu dắt nỗi buồn/ đi về phương nào/ hoặc lặn lại phía sâu trong/ như trai biển ngàn năm ngậm châu ngọc”.

5. Không khó để nhận ra hệ thống thi ảnh vừa xuyên suốt vừa biến hóa trong tập thơ này như ánh sáng, sương, cây, lá, hoa, ngọn đồi, dòng sông, ngọn lửa, mái nhà, đàn chim sẻ… Mỗi lần tái hiện, thi ảnh đều có vị trí mới, sắc thái mới, cảm thức mới. Ví như đàn chim sẻ, từ một biểu tượng tuổi thơ (Tìm lại những đường cày), đến biểu tượng khát vọng hồi sinh, khải hoàn: "trong nắng ấm chiều/ đàn sẻ nâu sà mình trên mái ngói/ cơn gió mồ côi trên cánh đồng cứ thổi/ đàn sẻ nâu đập cánh hát khúc ca khải hoàn” (Khúc ca tháng Bảy).

Ở thơ Trần Việt Hoàng, thi ảnh không phục vụ cho nhạc tính, cũng không làm nền cho cảm xúc. Chúng mang tính chất “chứng tích” - của một ánh nhìn có độ trễ, của một chủ thể sống chậm, sống kỹ, sống lặng, vì "lòng này thẳm sâu” (Ngày xa).

Ngay tên tập thơ "Ngày chưa sương vội" đã mở ra một vùng không - thời gian đặc biệt: sương - một trạng thái “trước khi” của thời gian, một ngưỡng mong manh giữa tỉnh và mơ. Đó là vùng giao thoa giữa ký ức và dự cảm, giữa hoài niệm và khát vọng, giữa mất và còn: "trí nhớ xanh theo vệt khói/ hư huyễn phủ màu” (Đêm); "cỏ ướt mềm cho đêm thanh sạch/ bầy chim ngói vị tha cất cánh trở về/ kể người nghe mùa sương đã trổ” (Nhận ra).

Tập thơ có nhiều bài khơi lên trạng thái ấy: "Ánh nhìn", "Trong những trở về", "Buổi sáng", "Đêm", "Sương Huế", "Loài chim"… Ở đó, cảnh vật không hiển thị bằng đường nét sáng rõ mà bằng ảnh tượng mơ hồ: "người đi trong mênh mang/ kinh thành ưu tư sương cỏ” (Sương Huế); "núi hiền như ô cửa/ đã nâu trầm theo mưa” (Đêm); “sóng trên hồ buồn trong tiếng gợn khẽ” hay “cánh vẫn rơi lên những bước chân xa” (Buổi sáng). Ở đó, cả hoa cũng trở thành phương tiện cảm thụ sương mù ký ức: “nước mắt làm sen xanh hơn/ hương thơm ngan ngát ngày buồn/…/ không nói về giấc mơ khi đứng trước loài sen” (Chuyển sen).

Sen - hình ảnh nhiều lần xuất hiện trong tập - như một biểu tượng của sự yên lặng dâng hiến, sự hồi sinh trong thanh lọc. Trong "Mùa sen bên thành", hình ảnh sen không chỉ mang vẻ đẹp tinh sạch mà còn trở thành tín hiệu tẩy rửa, thức tỉnh: “mùa sen tìm mình trong màn hình trong suốt/ hương ngan ngát gửi đi/ cho lòng người sáng trong bình dị/ vẻ khiêm nhường nơi đây còn mãi”.

Đối nghịch nhưng biện chứng với sương là ánh sáng. Như một chủ đích sáng tạo, ánh sáng xuất hiện liên tục trong thơ Trần Việt Hoàng: "mùa vắng dần những cơn mưa/ bông sen nở lên dưới đặc ân ánh sáng” (Chuyển sen). Đó là thứ ánh sáng của thức ngộ, của vỡ lẽ, của đức tin: "những trú ngụ vẫn còn nhiều lưu lạc/ ngựa xoải mình nhìn theo hướng vầng trăng” (Núi cuối mùa). Trong "Dấu lửa", người lính đi qua bão lửa bằng sự kiên tâm bền chí: “người lính đặc công qua lửa bằng niềm tin/ lòng xanh như trái núi bốn mùa”.

Và con đường, chân trời có lẽ là những thi ảnh tái lặp dày đặc hơn cả trong thi tập. Vì xác tín “bình minh phác sắc lên con đường trăm ngàn dấu chân” (Mùa sen bên thành), nên thi sĩ xác quyết “định danh một lối rẽ” (Lưng chừng ban trưa). Đó cũng là sự chứng nghiệm và học theo cách của lá - "những chiếc lá rơi phác vẽ một chân trời” (Buổi sáng). Khoảng không ngoài kia bao dung, người thơ “tự do thả cánh trước nghi lễ bầu trời” (Loài chim), tự “thắp những ngọn lửa vượt mưa để cháy” (Tự sự), và gặp “nắng vừa khởi nguyên” (Sáng xuân).

6. Tập thơ "Ngày chưa sương vội" không là cơn mưa rào cảm xúc. Nó là một làn sương. Một vùng sáng. Một tiếng gọi lên đường. Người thơ trẻ tuổi, “lòng như sương mai” (Hồi sinh), cất bước như người hành hương: không ồn ào, không dừng lại, cũng không vội vã. Anh “chín dần trong bình thản”. Và thơ - với anh - không phải nơi tải chở hiện thực, mà là một cách lặng lẽ thắp mình, để tìm mình, để đi xa: “ngày mới gạn lọc/ nước mắt trong hơn” (Gạn lọc); "những ký tự mang theo/ từ căn phòng ánh sáng” (Nhận ra).

Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).