Nếu không còn mùa Thu

Nay đã là đầu tháng chín ta, cứ như mọi năm thì Thu đã về trong hương cốm mới với chút gió heo may lành lạnh đủ để cho thiếu nữ choàng thêm cho mình một cái khăn mỏng để mà làm dáng làm duyên cùng nàng Thu yêu kiều và kín đáo. 

Vậy mà năm nay, đợi chờ mãi mà sao Thu chưa đến, những hàng cây trút lá theo mùa giờ này lá vẫn còn ngằn ngặt xanh, cây hoa sữa đầu phố như đang quá ngột ngạt vì thời tiết nên chưa bung nở được những chùm hoa như những chùm pháo sáng mang hương ướp đầy trời Thu mộng.

Bên những ngôi nhà cổ kính, hàng sấu thâm trầm trái vẫn còn non và xanh lắm và hình như cốm nữa, hương cốm mới cũng chả còn đằm lại trong cái gió heo may. Và rồi gió nữa, gió qua sông chưa mang màu hun hút nhớ, chưa mênh mênh mang mang bảng lảng như khói như sương trên những quãng sông mỗi khi chiều rụng, gió chưa là gió để vắng người sang những chuyến đò ngang.

Trên những tuyến phố dài hun hút, người người vẫn đang hơ hải, vội vàng chạy trời cho khỏi nắng. Đâu hết rồi cái nền nã, yêu kiều của mùa Thu với những chiếc xích lô mui trần, trên đó là những người bạn đến từ bốn phương thong thả, thanh thản ngắm trời Thu qua kẽ lá của những hàng cây. Đâu rồi những đôi tình nhân yêu nhau qua từng cái nắm tay ríu ran quanh hồ xanh soi bóng trời Thu?

Đã đầu tháng chín ta thế mà mùa Hạ tham lam vẫn đang bành trướng và o ép thời gian của nàng Thu mỏng mảnh. Trời đất có bốn mùa và con người phân chia thời gian từng mùa theo cơ học, đủ để một mùa có ba tháng trong một năm. Nghe Thu xưa vọng lại trong câu hát lời ru của bà, chuyện ngày xửa ngày xưa, xưa như cổ tích, khi mà con người đang sống hòa đồng, bình đẳng với thiên nhiên, cây cỏ và muông thú.

Con người biết ơn Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ thượng ngàn và Cha Biển Đông… con người biết vun trồng và chăm bón, con người biết sợ vì biết rằng luật đời có vay có trả, "ăn của rừng rưng rưng nước mắt" nên con người chưa truy sát và tận diệt thiên nhiên như bây giờ thì bốn mùa cũng hòa thuận sàng sẻ thời gian với nhau, cứ Xuân qua Hạ đến, Thu vãn Đông về.

Người xưa lấy nhịp điều hòa của các tiết trong năm để mà tính ngày tính tháng, người xưa có bốn mùa để mà biết ơn và để yêu nhau. Ai cũng chọn cho mình một mùa trong năm để mà thương mà nhớ, nhưng được lựa chọn nhiều nhất chắc vẫn là mùa Thu và mùa Xuân. Ai thích kín đáo, nền nã thiếu phụ một chút thì thường chọn mùa Thu, còn ai đang phơi phới sức Xuân, nồng nàn trong hơi thở, bung nở trong từng đường gân thớ thịt thì thường chọn lấy mùa Xuân để thể hiện và trải lòng.

Mùa Thu vàng như người đàn bà tiết hạnh mới một con, Gái một con không còn quá trẻ để ngỡ ngàng trong ánh mắt, ngập ngừng ở bờ môi. Gái một con và gái đã có gia đình, đã có một tình yêu viên mãn mà kết quả của tình yêu đó là đứa con bụ bẫm đầu lòng.

Gái mới một con nên chưa thể già để mà đành hanh và cáu cẳn như mùa Đông. Gái một con có cặp có đôi nên không phải người đứng bóng ế chồng để gay gắt như mùa Hạ. Thu quyến rũ và kín đáo của gái một con, của con nhà khuê các và gia giáo. Thu hiền dịu, nhường nhịn và bao dung.

Có phải vì quá hiền dịu, nhường nhịn và bao dung nên ngày nay Thu càng ngày càng bị thu hẹp về thời gian. Nếu đúng thời gian của Thu hình như chỉ còn có mỗi một tháng mười ta mà thôi. Sen tàn nhưng Hạ vẫn chưa chịu tắt nắng, bàn giao, Hạ cứ chùng chình câu giờ qua cả tháng chín ta.

Hạ có sự đanh đá và gay gắt của bà cô ế chồng lấn át cả nàng dâu Thu cô thế và kiệm lời. Đến khi Thu chưa kịp thay áo mới thì mùa Đông se sắt lại đon đả, hối hả nhận bàn giao. Bên Đông ép một tí, bên Đoài ép một tí, nàng Thu chỉ còn lại nhõn mỗi một tháng mười để mà yêu, ghét, buồn, vui.

Thu ngắn lại có phải vì Thu quá hiền dịu, nhường nhịn và bao dung hay do con người ngày nay không còn biết sợ, con người đã tàn phá hết rừng, moi cả xuống lòng đất mẹ để đào quặng và đầu độc biển trời. Đau đớn thay và buồn tủi thay, cả một dải biển miền Trung cá chết trắng tràn ngập bờ và chiều qua thả bộ lên Hồ Tây, trong mênh mang gió Tây Hồ không hề có một chút hương Thu mà là mùi xú uế của hàng tấn cá chết nổi nênh như những dấu trừ cho môi trường Thủ đô thân yêu của chúng ta và rồi hạn hán ở Nam Trung bộ, Tây Nguyên, còn mùa nước nổi ở Tây Nam bộ thì đã đi vào dĩ vãng. Không còn con nước nổi trôi theo dòng Cửu Long giang về tưới tắm và bồi đắp phù sa cho đồng bằng châu thổ. Cá linh cũng không còn theo được con nước mà về để mặc bông điên điển vẫn nở vàng rực đợi chờ ở bờ ao.

Thu thoắt đến rồi Thu sẽ thoắt đi, với tốc độ tàn phá môi trường sống của chúng ta như hiện nay, chỉ sợ đến một ngày nào đó sẽ không còn mùa Thu, còn mùa Xuân cũng chỉ còn lại trong ký ức của những người già. Nếu không còn mùa Thu thì thật là buồn lắm thay.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).